PHAOLÔ: VỊ TÔNG ĐỒ CHO DÂN NGOẠI
PHAOLÔ: VỊ TÔNG ĐỒ CHO DÂN NGOẠI
Joseph Tân Nguyễn ofm
Nhân vật quan trọng thứ hai sau Đức Giêsu trong quá trình phát triển của Giáo hội sơ khai là Phaolô, một Pharisêu vốn đã bách hại Kitô hữu vì họ tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Mêsia. Nhưng qua một thị kiến trên đường đi Đamát, cuộc đời của Phaolô chuyển hướng 180 độ, và ngài đã trở thành vị Tông đồ vĩ đại nhất cho dân ngoại. Ngài hăng say rao giảng Tin Mừng cứu độ và thiết lập các cộng đoàn Kitô hữu tại những thị thành quanh vùng Địa Trung Hải. Ngài viết thư cho dân Do Thái lẫn dân ngoại, và các thư của ngài trở thành phần quan trọng của Tân ước. Các sáng tác của ngài để lại một trực giác thần học khá sáng tạo về biến cố Kitô. Sứ vụ truyền giáo của ngài đánh dấu sự khởi đầu cho sự lan tỏa của Tin Mừng ra ngoài Do Thái giáo để trở thành một tôn giáo của thế giới. Là một nhà truyền giáo lưu động, mỗi trải nghiệm mới của Phaolô cũng là cơ hội phát triển tư duy thần học cho ngài. Chương này sẽ tìm hiểu hành trình truyền giáo của Phaolô, cùng với các sáng tác của ngài trên đường đi. Sau đó, chúng ta sẽ sơ lược qua hệ quả của tư tưởng thần học của Phaolô trên mối tương quan giữa Kitô giáo và Do Thái giáo.
HÀNH TRÌNH TRUYỀN GIÁO CỦA PHAOLÔ
Phaolô sinh ra khoảng giữa năm 1-10 CN tại Tácxô, một trung tâm học thuật của phái Khắc Kỷ. Phaolô cho biết ngài thuộc dòng dõi Bengiamin, một Pharisêu sốt sắng tuân giữ Lề Luật và được thụ giáo với vị Rabbi nổi tiếng Gamalien ở Giêrusalem. Phaolô có mặt tại biến cố tử đạo của Stêphanô: “Họ để áo mình dưới chân một nhân chứng tên Saolô” (Cv 7,58a), và “phần Saolô, ông tán thành việc giết ông Stêphanô” (Cv 8,1). Sau đó, Saolô phá hoại nhà thờ, xâm nhập vào nhà các tín hữu, lôi cả đàn ông và đàn bà ra và ném họ vào tù (Cv 9,2-3). Trên đường đi Đamát để tìm bắt các Kitô hữu, bỗng nhiên có một luồng ánh sáng từ trời chiếu xuống bao phủ Saolô. Ngài ngã xuống đất và nghe có tiếng nói: “Saolô, Saolô, tại sao ngươi bắt bớ ta?” (Cv 9,5). Các bạn đồng hành của ngài nghe tiếng nói nhưng không nhìn thấy gì cả. Biến cố “cải đạo” này được kể lại trong sách Tông đồ Công vụ nhưng các Thư của ngài không thấy nói đến. Phaolô bị mù và nhịn ăn trong ba ngày, được dẫn đến Đamát và được Khanania chăm sóc. Từ đây, Phaolô sẽ trở thành “khí cụ” đắc lực Thiên Chúa dùng để mang Tin Mừng đến dân ngoại.[1]
Lúc này, Phaolô có lẽ chưa ý thức được rằng nửa cuộc đời còn lại mình sẽ dong duổi trên hơn 10.000 dặm đường với đầy dẫy gian truân. Ngoài quê hương Tácxô và các nơi quen thuộc như Giêrusalem, Antiôkia và Đamát, còn có ít nhất bốn mươi địa danh khác đã đón chân của vị Tông đồ vĩ đại này. Chúng ta chỉ liệt kê tên các nơi ngài đã ghé qua như: Troa, Nêapôli, Philípphê, Thêxalônica, và Amphipôli, mỗi nơi ba lần. Tại Đécbê, Lýtra, Icôniô, Pixitia, Pixiđia, Athêna, Côrintô, Kenkhơrê, Êphêxô, Bêrêa và Apôlônia, mỗi nơi hai lần. Và tại Attalia, Apôlônia, Cêsarê Salami, Paphô, Pécghê, Xêlêucia, Assô, Mitylênê, Khiô, Milêtô, Cô, Rôđô, Patara, Tia, Ptôlêmai, Cêsarê, Siđôn, Myra, Cniđô, Bến Lành (Fair Havens), Xyracu, Rhêgiô, Puthêôli, và Rôma, mỗi nơi một lần. Trên đường đi truyền giáo, Phaolô đã bị tấn công, đánh đòn, ném đá, tù đày ít nhất ba lần, đắm tàu hai lần, trôi giữa biển một ngày và một đêm và bị rắn độc cắn trên đảo (Cv 27-28; 2 Cr 11,25). Phaolô có những bạn đồng hành nổi tiếng như Barnaba (Cv 14,14), Gioan Máccô (Cv 12,15), Luca (Plm 1,24; Cl 4,14; 2 Tm 4,11); Xila (Cv 15,22) và Timôthê (2 Tm 1,5). Nhiều nhân vật khác theo giúp hoặc gặp ngài trong thời gian ngắn như: Aritácô ở Thêxalônica, Êpaphra-một nô lệ, Gaiô ở Macêđônia, Giaxon ở Thêxalônica, Sôpatê, Ônêximô, Sôthênê, Trôphimô, Tykhicô.
Hệ thống đường xá của Rôma ở thế kỷ I kết nối các thành thị quanh vùng Địa Trung Hải lại với nhau, thuận tiện cho việc giao thương, trao đổi ý tưởng cũng như truyền giáo. Mỗi phố thị là một hỗn hợp gồm nhiều văn hóa, sắc dân và tôn giáo, với đủ loại đền thờ và các vị thần. Người ta dâng cúng của lễ cho những vị thần mà họ tin là sẽ hỗ trợ cho các nhu cầu của họ. Giữa họ có một nhóm thiểu số chỉ tôn thờ một vị thần mà họ khẳng định là Con Thiên Chúa, Đấng Tạo Thành trời đất, và là Vua của thế giới. Hầu hết các vua chúa cai trị bằng bạo lực hay sức mạnh, nhưng vị Vua Giêsu cai trị bằng tình yêu và sự hy sinh tự hủy. Phaolô tự cho là người tiền hô của vị Vua nhân từ này, và kêu gọi mọi người hãy sống dưới sự bảo bọc của Ngài. Phaolô lặn lội trên mọi nẻo đường, với ước mong đem Tin Mừng Phục Sinh đến cho càng nhiều người càng tốt, vì ngài tin rằng Đấng Mêsia sẽ sớm trở lại để phán xét thế gian.
Khi đến một nơi, Phaolô có thói quen đi thẳng vào hội đường, thuyết phục những giáo dân đang tụ tập. Một số người tin vào lời ngài, một số khác làm ngơ và số còn lại cho rằng thông tin này rất nguy hiểm và đuổi ngài ra khỏi hội đường. Từ đó, Phaolô ra giảng giữa phố chợ nơi có dân cư đông đúc. Nhiều người Do Thái biết Phaolô là một Pharisêu nhưng lại quay ra rao giảng về Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, nên họ nổi giận vì cho rằng ngài đang hủy hoại Do Thái giáo, và thế là họ tìm cách giết ngài. Có lúc, ngài kịp thời được các bạn đồng hành giải cứu bằng cách thả xuống vách thành trong một giỏ hàng. Hành trình đến Arập (Arabia) thì hoàn toàn thất bại, nên Phaolô trở về Đamát và học nghề dệt lều. Sau đó, ngài lên Giêrusalem gặp Phêrô và ở lại với các Tông đồ một thời gian. Nơi đây, Phaolô gặp Barnaba, một thầy Lêvi gốc Sýp, được các Tông đồ sai đến Antiôkia để tìm hiểu việc các dân ngoại muốn gia nhập Giáo hội (Cv 4,36-37).
Cuộc hành trình truyền giáo đầu tiên của Phaolô (Cv 13-14) là do giáo đoàn tại Antiôkia đặc cử. Phaolô và Barnaba đi đến Antiôkia ở Pixiđia và giảng cho người Do Thái và những kẻ kính sợ Thiên Chúa. Phaolô gặt hái được nhiều thành công khi kết nối lời ngôn sứ với sứ mạng của Đức Kitô. Khi thấy đám đông nghe theo Phaolô, nhiều người Do Thái sinh lòng ghen tức và phản đối, từ đó Barnaba và Phaolô hướng về dân ngoại. Một số phụ nữ thượng lưu Do Thái xúi giục các thân hào đuổi hai ông ra khỏi thành. Hai vị này tiếp tục đi đến Icôniô và ở lại đó khá lâu. Tại các hội đường, nhiều người Do Thái và Hy Lạp tin theo các ngài, nhưng cũng có những kẻ có ác cảm, mưu toan làm nhục và đòi ném đá các ngài. Biết thế, hai ngài đành lánh sang các thành thuộc miền Lýcaôni.
Tại Lýtra, khi Phaolô chữa lành cho một người bại chân, đám đông tung hô, đem bò, vòng hoa, và của lễ đến tôn thờ các ngài như một vị thần giáng trần. Phaolô giải thích cho họ rằng chỉ có một Thiên Chúa hằng sống, Đấng đã tạo dựng trời đất, và các thần của họ chỉ là ngẫu tượng. Khi ấy, có những người Do Thái từ Antiôkia và Icôniô đến, tức giận và lôi Phaolô ra khỏi thành để ném đá cho chết, nhưng các môn đệ vây quanh đã cứu ông. Dân ngoại thờ các thần Rôma để cầu mong cho thành phố được an bình an và đây cũng là nguồn kinh tế cho Đế quốc. Vì thế, đối với người dân, Phaolô không chỉ thêm tên Đức Giêsu vào danh sách các thần có sẵn, mà còn đả phá các thần là yếu đuối, mê hoặc và không có thật. Họ cho ngài là lộng ngôn vì dám gọi Đức Giêsu là “Vua”, “Chúa” hay “Thiên Tử”, vốn là những danh xưng chỉ dành cho hoàng đế. Như thế, Tin Mừng mà Phaolô rao giảng là nguy hiểm và trở thành mối đe dọa cho Đế quốc, nên cần phải bị khai trừ.
Tại Antiôkia, Phaolô và Barnaba đã tranh luận khá gay gắt với nhóm Kitô hữu từ Giuđa vốn dạy anh em phải cắt bì mới được cứu độ. Kết cuộc, họ phải lên Giêrusalem để tham khảo ý kiến của các vị Tông đồ. Tại Hội Nghị ở Giêrusalem, Phaolô kể lại việc Thiên Chúa đã dùng đức tin để thanh tẩy không phân biệt Do Thái hay dân ngoại, và khiển trách những ai dám thách thức Thiên Chúa khi buộc các môn đệ phải làm những việc mà cha ông của họ không làm được. Sau khi nghe lời chứng hùng hồn của Barnaba và Phaolô cùng với bài diễn từ của Giacôbê, cử tọa đồng ý không đòi hỏi việc cắt bì mà chỉ kiêng cử những đồ đã cúng cho các ngẫu tượng, các loại thịt còn máu và tránh gian dâm. Họ cử một số đại biểu đến Antiôkia, triệu tập cộng đoàn và loan báo quyết nghị này. Kết cuộc, hành trình thứ nhất của Phaolô, tuy gặp nhiều chống đối từ dân Do Thái, nhưng đã thiết lập được một số giáo đoàn trong vùng Galát và đã phá vỡ rào cản để dân ngoại được cải đạo dễ dàng hơn.
Hành trình truyền giáo thứ hai của Phaolô đến các vùng Syria, Xilixia và Galát để loan báo việc không đòi buộc cắt bì khi dân ngoại gia nhập Giáo hội (Cv 15-18,22). Khi khởi hành, Phaolô bất đồng với Barnaba về việc mang theo Gioan Máccô, vốn là người đã rời bỏ hai ông trên đường truyền giáo ở Pamphylia. Từ đó, Barnaba cùng với Gioan Máccô vượt biển đi đảo Sýp, còn Phaolô với Xila hướng về các vùng Tiểu Á, Macêđônia và Akhaia. Phaolô viết thư cho giáo đoàn ở Thêxalônica, cảnh báo họ rằng thế giới chúng ta đang biết sẽ sớm chấm dứt với sự trở lại của Đức Kitô. Đối tượng của ngài hầu hết là dân ngoại, do đó Phaolô phải thuyết phục họ rằng các việc tôn thờ các thần là vô nghĩa vì chúng không có thật, vì thế để được cứu rỗi trong ngày phán xét, họ phải tin vào Con của Thiên Chúa được gửi đến để cứu độ trần gian (1 Tx 1,9-10). Phaolô lồng các bài giảng của ngài vào bối cảnh cánh chung vốn được minh chứng bằng sự Phục Sinh của Đức Kitô từ cõi chết (1 Cr 15,3-4). Nhiều người gia nhập Giáo hội vì họ tin vào các phép lạ Phaolô đã làm (2 Cr 12,12).
Phaolô đi qua miền Syria và Xilixia, đến Đécbê, gặp Timôthê, một chàng trai có mẹ là người Do Thái và cha là người Hy Lạp. Vì nể người Do Thái, Phaolô đã cắt bì và mang Timôthê theo mình trên đường truyền giáo. Họ đi qua miền Axia, nhưng Thánh Thần Đức Giêsu không cho vào Myxia, họ bèn xuống Troa. Ở đó, qua một thị kiến ban đêm, có người kêu mời Phaolô đến tỉnh Macêđônia. Sáng hôm sau, ngài cùng với Xila và Timôthê xuống tàu đi Philípphê, một thị thành quan trọng nhất của Macêđônia. Tại đây, Phaolô đã rửa tội cho bà Lydia và cả gia đình, và đã tạm dùng nhà của bà để mở rộng hoạt động truyền giáo. Nhiều phụ nữ trong vùng cũng đã hỗ trợ vào việc tổ chức giáo đoàn. Cũng tại nơi đây, Phaolô đã trừ quỷ cho một đứa gái nô lệ. Cô bé này cứ lẽo đẽo đi theo và kêu la rằng đây là những tôi tớ của Thiên Chúa và đang loan báo ơn cứu độ, làm cho các nhà truyền giáo mất tự do. Tức giận vì bị mất thu lợi, người chủ của cô bé lôi Phaolô và Xila ra trước nhà chức trách và họ giam tù các ngài. Nhưng qua đêm các ngài được giải thoát nhờ có một cuộc động đất mạnh và Phaolô đã ngăn cản viên cai ngục khỏi tự vẫn vì để tù nhân trốn thoát. Viên cai ngục mời các vị này về nhà và cả gia đình ông đã chịu Phép Rửa.
Kế tiếp, đến Thêxalônica, Phaolô giảng về Đức Kitô chịu khổ hình và sống lại từ cõi chết trong các ngày Sabbath và có nhiều phụ nữ Hy Lạp giàu có nhập đoàn. Điều này làm cho người Do Thái ghen tức, gọi các đám du đãng đến gây náo động và tố cáo các ngài là chống lại những chiếu chỉ của hoàng đế. Ngay đêm ấy, các giáo hữu phải đưa các ngài đi Bêrêa, nơi mà họ được các giới thượng lưu tiếp đón rất nhiệt tâm. Khi nhóm Do Thái ở Thêxalônica nghe tin này, kéo đến sách động quần chúng, gây khó khăn cho các ngài. Phaolô bỏ đi sang Athêna, để Xila và Timôthê ở lại. Trước Hội đồng Arêôpagô tại Athêna, Phaolô nói về sự hiện diện của bàn thờ “Thần vô danh”, nhưng khi đề cập đến Đức Giêsu được Thiên Chúa làm cho sống lại từ cõi chết, thì mọi người chế nhạo ngài và bỏ đi. Phaolô không được thành công cho lắm giữa những dân Hy Lạp này (Cv 17,33).
Sau đó, Phaolô đi đến Côrintô và ở tại nhà của một cặp vợ chồng Do Thái vốn là đồng nghiệp dệt lều. Nơi đây, các Kitô hữu gốc Do Thái lẫn gốc dân ngoại đang thờ phượng chung với nhau, và Phaolô đóng vai một nhà chú giải Kinh Thánh, giải thích vai trò của Torah cho dân ngoại. Trong một đêm, Phaolô được thị kiến bảo ngài: “Hãy giảng, đừng sợ, vì Thầy có đám đông trong thành này” (Cv 18,9). Nhưng khi giảng về Đức Giêsu chính là Đấng Mêsia mà Do Thái giáo đang mong chờ, thì ngài bị dân chúng cho là lộng ngôn. Phaolô chuyển qua giảng tại một hội đường khác. Người Do Thái lôi ngài ra tòa đòi xử phạt, nhưng quan tòa từ chối vì không muốn dính líu vào tranh chấp nội bộ. Sau 18 tháng ở Côrintô, Phaolô vượt biển sang Syria, đến thành Êphêxô và như thói quen, vào hội đường để thảo luận. Những người Do Thái tại đó muốn Phaolô ở lại lâu hơn nhưng ngài tiếp tục đi đến Cêsarê, từ đó lên Giêrusalem để chào thăm Hội Thánh, rồi trở lại Antiôkia, kết thúc hành trình thứ hai của ngài.
Hành trình truyền giáo thứ ba đưa Phaolô về hướng tây lần nữa (Cv 18,23–21,17). Phaolô đi từ Antiôkia ở Syria qua thành Galát và Phrygia, rồi thiết lập một giáo đoàn sống động tại Êphêxô. Ngài bỏ nhiều tháng đi khắp xứ sở Hy Lạp từ bắc xuống nam, rồi trở ngược lại thăm các giáo đoàn mà ngài đã thiết lập trong chuyến đi lần trước. Ở đó có ông Apôlô với biệt tài rao giảng và thông thạo Kinh Thánh, vốn được anh em giới thiệu cho giáo đoàn để giúp các tín hữu phản biện những tố cáo sai lầm của người Do Thái. Cũng tại Êphêxô, có một giáo đoàn gồm dân Do Thái cải đạo vốn là môn đệ của Gioan Tẩy Giả. Họ đã nhận lãnh “phép rửa của Gioan Tẩy Giả” nhưng lại không biết gì về cuộc Khổ nạn, Phục Sinh và biến cố Hiện xuống của Thánh Thần. Phaolô đã giúp họ thông hiểu những giáo lý căn bản về Đức Kitô, và đã ban cho họ Phép Rửa nhân danh Chúa Giêsu. Phaolô ở lại đó một năm trong khi giúp thiết lập một số cộng đoàn khác như ở Côlôxê.
Tại Êphêxô, Phaolô thể hiện tài năng vượt trội của một nhà truyền giáo hơn là một người quản lý. Khi có một số người cứng lòng chống đối, Phaolô tách các môn đệ ra riêng, ngày ngày thảo luận nơi trường học. Sau hai năm, có rất nhiều người Do Thái lẫn Hy Lạp ở Axia đã được nghe Lời Chúa. Thiên Chúa đã dùng Phaolô để làm nhiều phép lạ phi thường khác, đến nỗi người ta dùng khăn và áo chạm vào người ông rồi đặt lên người bệnh, thì bệnh cũng biến đi và tà thần cũng phải xuất (Cv 19,11). Nhưng thành công của Phaolô cũng gây ác cảm nơi các thợ bạc ở Êphêxô. Họ tức giận, gây rối loạn và tố cáo Phaolô đã cho rằng các thần là do tay người tạo nên, làm cho dân chúng thay lòng đổi dạ, chê bai nghề nghiệp của họ và làm giảm uy tín các vị thần bảo hộ thành phố. Các thợ bạc huy động đám đông biểu tình và lôi các bạn đồng hành của Phaolô ra xử. Phaolô muốn ra bênh vực cho họ, nhưng bị anh em ngăn cản. Đám đông trở nên hỗn loạn, và viên thư ký thành phố phải ra trấn an, giải thích rằng các ngài chưa nói gì xúc phạm đến nữ thần Actêmi, và khuyên họ giải tán để tránh bị kết tội gây rối loạn vô cớ (Cv 19,23-40).
Sau cuộc nổi loạn này, Phaolô đi qua miền Macêđônia, thăm viếng giáo đoàn và ở lại với anh em truyền giáo ba tháng. Họ hẹn gặp lại ở Troa để bẻ bánh. Họ thảo luận suốt đêm trên lầu một nhà, làm cho một thiếu niên tên Eutykhô ngủ gật, té xuống từ cửa sổ và chết. Phaolô nhanh chóng hồi sinh người này và tiếp tục giảng cho đến khi trời sáng (Cv 20,7-12). Sáng hôm sau, Phaolô theo đường biển đi qua Mitylen và Khiô, cặp bến ở đảo Xamôt, rồi ngày sau đó đến Milê. Tại đây, Phaolô cho mời các kỳ mục trong Hội Thánh đến, và chia sẻ cho họ những lời tâm huyết, như một người cha sắp ra đi khuyên con cái hãy bảo bọc và thương yêu nhau. Phaolô nói về sự hy sinh và phó thác của ngài cho Thiên Chúa. Sau khi nghe Phaolô nói, anh em cùng quỳ xuống cầu nguyện và ôm nhau khóc nức nở, trước khi tiễn ngài ra đi ngày hôm sau.
Phaolô đến Giêrusalem để giao số tiền quyên góp được cho người nghèo và hôm sau đến thăm Giacôbê và các kỳ mục, cũng như báo cáo tất cả từng chi tiết mà Thiên Chúa đã dùng ông để đem Tin Mừng đến dân ngoại. Mọi người cảm kích sứ vụ của Phaolô cho dân ngoại. Sau đó, Phaolô cùng anh em vào Đền Thờ làm nghi lễ tẩy uế và dâng các lễ vật cầu cho các người Hy Lạp đi theo ngài. Khi các người Do Thái từ Axia đến thấy ông trong Đền Thờ thì sách động quần chúng tố cáo Phaolô đã vi phạm Lề Luật và làm ô uế Nơi Thánh với sự hiện diện của các người Hy Lạp. Cả thành phố náo động, đổ xô đến, lôi Phaolô ra ngoài, đóng các cửa Đền Thờ và tính giết ngài. Phaolô xin quan chỉ huy cho nói vài lời minh bạch, vì ông cũng là người Do Thái gốc nói tiếng Hípri. Trước dân Do Thái ở Giêrusalem, Phaolô kể lại những gì đã làm thay đổi cuộc đời ngài, từ một Pharisêu có mặt lúc Stêphanô bị ném đá, cho đến biến cố tại Đamát, và sau đó sứ mệnh thuyết phục mọi người về Tin Mừng Đức Kitô, Đấng Mêsia được Thiên Chúa gửi đến để cứu độ thế gian.
Nghe những lời này, đám đông càng hăng máu, la hét, phất áo và tung bụi lên trời làm cho vị chỉ huy ra lệnh đem Phaolô vào đồn và truyền đánh đòn tra tấn. Nhưng Phaolô nói, “Một công dân Rôma chưa được xét xử, các ông có được phép đánh đòn không?” (Cv 22,25). Vị chỉ huy phát sợ vì biết mình đã làm điều sai trái, hôm sau đưa Phaolô ra trước Thượng Hội Đồng để tìm ra sự thật. Trước Thượng Hội Đồng có cả phái Xađốc và Pharisêu, Phaolô tuyên bố ngài là người Pharisêu và tin vào sự sống lại đời sau. Điều này làm cho hai bên, Xađốc và Pharisêu, tranh cãi dữ dội, và vì sợ Phaolô bị giết, vị chỉ huy đưa ngài về đồn.
Vì không làm hại được Phaolô, người Do Thái âm mưu giết ngài, nhưng qua đêm một người cháu trai lén vào trại báo tin. Được tin này, vị chỉ huy viết một lá thư, sai binh sĩ đưa Phaolô đi Cêsarê giao cho quan tổng trấn Phêlix (Cv 24,1). Biết vậy, các thượng tế ở Giêrusalem cử một luật sư đến Cêsarê để tố cáo Phaolô tội quấy phá Do Thái giáo, nhưng Phaolô tự biện hộ rằng mình đã trung thành với lời Ngôn sứ, làm việc từ thiện, cứu trợ dân tộc, dâng của lễ cho Thiên Chúa và không làm điều gì phạm pháp. Quan tổng trấn tại đây là người công chính, ra lệnh giam Phaolô tại dinh Hêrôđê, nhưng với chế độ dễ dãi để ngài được gặp gỡ thân nhân và những ai muốn giúp đỡ ngài (Cv 24,22).
Hai năm sau, khi có quan tổng trấn mới đến thay, các thượng tế ở Giêrusalem một lần nữa cử người đến xin mang Phaolô về Giêrusalem để xử, nhưng họ có âm mưu phục kích và giết ngài trên đường đi. Trước mặt quan tổng trấn mới, Phaolô nói rằng ngài đã không làm điều gì đáng chết, và trước những lời tố cáo vô căn cứ của người Do Thái, ngài muốn kháng cáo lên Hoàng đế Xêda. Lúc đó có vua Agrippa đang thăm viếng Cêsarê, Phaolô có một bài diễn từ rất tha thiết và khiêm tốn trước nhà vua (Cv 9,1-9; 22,6-16; 26,1-23). Nhà vua cảm thông và tuyên bố Phaolô chẳng phạm lỗi gì cả, đáng được thả tự do nếu đã không kháng cáo lên Hoàng đế Xêda. Sau đó, một đại đội được lệnh dẫn độ Phaolô và mấy tù nhân đi Rôma.
Lúc đó là mùa đông và tàu gặp bão tố dữ dội và phải ném hàng hóa xuống biển để tránh bị mắc cạn. Sau mười bốn ngày trôi dạt trên biển cả, hết thức ăn, cả đoàn tàu tưởng như chết. Trong một đêm, con tàu đụng vào bãi cát ngầm và vỡ tan, các thủ thủy sợ các tù nhân trốn thoát nên tính giết họ. Nhưng viên đại đội trưởng muốn cứu Phaolô và ra lệnh cho ai biết bơi thì tự nhảy xuống bơi vào bờ. Trên đảo Malta, khi thấy Phaolô bị rắn độc cắn, dân chúng nghĩ điều này là xứng đáng cho một tên sát nhân, nhưng ngài lại không chết và dân chúng đổi ý, tôn sùng ngài như một vị thần (Cv 28,6). Sau ba tháng mùa đông, Phaolô tiếp tục cuộc hành trình, trên đường ghé vào thành Xyracuxa và cảng Putêôli (Cv 28,13) và gặp những anh em truyền giáo. Đến Rôma, Phaolô được kiều bào Do Thái đón tiếp và cảm thông cho nỗi thống khổ của ngài. Phaolô thuê nhà và ở lại đây gần hai năm, tiếp tục giảng về những gì Lề Luật và các Ngôn Sứ nói về Đức Giêsu. Nhiều dân ngoại lắng nghe, nhưng cũng có nhiều người Do Thái tranh cãi sôi nổi.
Giờ đây ở tuổi 60, Phaolô vẫn còn ôm ấp giấc mộng mang Tin Mừng đến tận Tây Ban Nha. Nhưng không bao lâu, có cuộc đại hỏa tiêu hủy gần một nửa kinh thành Rôma do âm mưu của Hoàng đế Nêrô (64 CN). Để thỏa mãn thú tính của mình, Nêrô sát hại rất nhiều Kitô hữu, ném họ vào hí trường cho thú dữ xé xác, hay tẩm dầu và đốt họ như những ngọn đuốc thắp sáng kinh thành vào ban đêm. Trong dịp này, Phaolô bị bắt giam và có lẽ trong tù đã viết lá thư 2 Timôthê cuối cùng. Theo truyền thống, Phaolô bị xử tử nơi mà Thánh Đường Phaolô Ngoại Thành tọa lạc ngày nay.
RAO GIẢNG & SÁNG TÁC TRÊN ĐƯỜNG ĐI
Thật không sai khi nhiều học giả đã gọi Phaolô là “Đấng Sáng Lập thứ hai” của Kitô giáo. Trong khi Đức Giêsu loan báo về Nước Trời và trải nghiệm “Abba” của người, thì Phaolô rao giảng về biến cố Tử nạn và Phục Sinh, vốn là yếu tố chính yếu mang ơn cứu rỗi cho thế gian. Nếu không có Phaolô thì Kitô giáo chắc sẽ chỉ là một chi phái của Do Thái giáo. Niềm tin về “sự chấm hết của thế giới sắp đến” là nền tảng cho quan điểm cánh chung của Phaolô nơi các thư ở giai đoạn đầu: ngày tận thế sẽ đến “như kẻ trộm trong màn đêm” (1 Tx 5,2). Nhưng càng về sau thì tính cấp bách của tận thế đã giảm dần như trong Thư Rôma và biến mất trong các Thư Mục Vụ. Đối với Phaolô, việc viết thư cũng là việc rao giảng Tin Mừng, vì các thư của ngài viết để giải quyết những vấn nạn từ các giáo đoàn mà ngài đã thiết lập.[2]
Lời rao giảng của Phaolô đã thuyết phục được nhiều dân ngoại. Họ cảm nhận được tình yêu của Thiên Chúa nơi cộng đoàn mà mọi người được đối xử cách công bằng, bất kể sắc tộc, giới tính hay giai cấp kinh tế. Họ thành lập những gia đình mới, chia sẻ thức ăn, chăm sóc người nghèo và hy sinh cho nhau. Họ sống như thể Đức Giêsu là Vua thật sự của họ. Trên hành trình truyền giáo, Phaolô phải gánh chịu vô số đau khổ và bách hại, nhưng ngài chấp nhận tất cả vì tin rằng các trải nghiệm này chính là sự tái diễn cuộc khổ nạn mà Đức Giêsu đã chịu đựng vì yêu thế gian. Sau những chuyến đi, tiếng tăm của Phaolô càng gia tăng, thì ngài cũng có thêm nhiều bạn cũng như kẻ thù mới.
Lời giảng dạy của Phaolô được căn cứ trên trải nghiệm của ngài về Đấng Phục Sinh, còn chi tiết sinh thời về Đức Giêsu thì chỉ sơ sài qua những gì được nghe người khác kể lại (Pl 2,5-11). Biến cố Tử nạn và Phục Sinh của Đức Kitô là động lực chính yếu cho sứ mệnh truyền giáo của Phaolô. Quan điểm truyền giáo của Phaolô đã biến Kitô giáo thành một tôn giáo riêng biệt của thế giới. Sáng tác của ngài cung cấp khung tri thức để tiếp cận ý nghĩa ơn cứu độ phổ quát của Tân ước. Phaolô lý luận rằng nếu Đức Giêsu được sống lại từ cõi chết, thì rõ ràng là Thiên Chúa đã không lên án ngài mà chọn ngài làm Đấng Mêsia để cứu rỗi chúng ta. Do đó, cái chết của Đức Giêsu nằm trong dự tính của Thiên Chúa, không vì tội lỗi của ngài mà do tội lỗi của kẻ khác. Ngược lại, người Do Thái xem Mêsia phải là đấng vĩ đại, đầy quyền năng để lật đổ mọi kẻ thù và lập Nước Chúa trên thế gian. Không ai nghĩ rằng Đấng Mêsia lại phải chết hay là một kẻ yếu đuối và bất lực, để rồi bị kết án tử hình vì tội chống lại nhà nước.
Nhưng vì Đức Giêsu đã chết như một tội nhân, Kitô hữu phải tìm các chi tiết từ sách Ngôn sứ Isaia 53 và Thánh vịnh 22 để hỗ trợ cho quan điểm rằng Đấng Mêsia là một người công chính, gánh chịu hình phạt cho tội lỗi của kẻ khác. Họ chú giải các đoạn văn này như đang nói về Đức Giêsu cho dù Do Thái giáo chưa bao giờ hiểu chúng như thế. Một khi Phaolô dùng biến cố Phục Sinh như chìa khóa chú giải của Tin Mừng, thì ngài cũng phải giải thích mối tương quan giữa giao ước cũ của Lề Luật và “Giao Ước Mới” chính là biến cố Kitô. Lề Luật chỉ dạy con người phải sống như thế nào, chứ không thể cung cấp sức mạnh để thực thi những gì nó đòi hỏi. Lề Luật lên án chứ không thể mang lại ơn cứu rỗi. Vì tất cả mọi người đang sống dưới quyền lực của tội lỗi đang thống trị thế giới, cho nên không ai có thể tự công chính hóa mình bằng cách thỏa mãn mọi đòi hỏi của Lề Luật. Nhưng cái chết và sự Phục Sinh của Đức Kitô đã phá vỡ sự thống trị của thủ lãnh thế gian và giải phóng những ai tin vào Ngài.
Nếu ơn cứu độ không lệ thuộc vào Lề Luật, thì dân ngoại không đòi hỏi phải tuân phục nó khi gia nhập Giáo hội. Một khi Phaolô tin chắc vào điều này, ngài trở thành Tông đồ cho dân ngoại, hăng say mang Tin Mừng đến khắp mọi nơi, thuyết phục thật nhiều người cải đạo có thể được. Ngoài niềm tin về Đức Kitô sớm trở lại, Phaolô còn phải giúp các tân tòng biết cách lý giải các quan điểm xem có vẻ trái ngược. Tại Galát, có những “thầy giả” dạy rằng các tín hữu gốc ngoại giáo phải tuân giữ Lề Luật Do Thái nếu muốn được công chính hóa trước mặt Thiên Chúa. Tại Côrintô, có nhiều giáo hữu cho rằng nếu ơn cứu độ đến từ bên ngoài Lề Luật, thì họ có tự do sống theo cách nào họ muốn và không bị ràng buộc bởi luân lý nào cả. Như thế, đối với Phaolô, thiết lập một giáo đoàn chưa phải là xong, ngài phải tiếp tục viết thư, thăm viếng và chỉ dạy họ về cách sống đức tin.
Cá nhân Phaolô là một người tự tin và ý thức về khả năng của mình. Ngài cho rằng mình đã “vượt xa các bạn đồng trang lứa về cách hăng say giữ đạo Do Thái” (Gl 1,14). Sức chịu đựng đau khổ của ngài đến từ Thiên Chúa: “Tôi cảm thấy vui sướng khi mình yếu đuối, khi bị sỉ nhục, hoạn nạn, bắt bớ, ngặt nghèo vì Đức Kitô. Vì khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh” (2 Cr 12,10). Mối tương quan với anh em là thiết yếu cho đức tin của ngài: “Tôi điên rồi! Chính anh em đã khiến tôi hóa ra như thế. Đáng lẽ anh em phải khen tôi, vì mặc dầu tôi chẳng là gì, tôi đâu có thua kém các Tông đồ siêu đẳng kia” (2 Cr 12,11). Sức mạnh của cộng đoàn chính là sự nâng đỡ cho ngài, vì “nơi anh em có các dấu chỉ của sứ vụ Tông đồ: nào là đức kiên nhẫn hoàn hảo, nào là những dấu lạ điềm thiêng, nào là các phép lạ” (2 Cr 12,12). Phaolô không ngần ngại hạ mình, xin được anh em tha thứ vì những thiếu sót trong cách ứng xử của ngài đối với họ trong quá khứ.
Sáng tác của Phaolô thường tỏ lộ những xung lực đối nghịch, nhưng ngài không phải là một người bị ám ảnh tâm lý. Phaolô hiểu rõ cảm xúc của mình khi tự thú rằng “trước kia, tôi là kẻ lộng ngôn, bắt đạo và ngạo ngược, nhưng tôi được Người thương xót, vì tôi đã hành động một cách vô ý thức, trong lúc chưa có lòng tin” (1 Tm 1,13). Phaolô nhận ra mình đã được biến đổi: “Đức Kitô đã ban cho tôi đầy tràn ân sủng, cùng với đức tin và đức mến của một kẻ được kết hợp với Người”. Vì thế, lời rao giảng của Phaolô có giá trị chân thực: “Đây là lời đáng tin cậy, và đáng được mọi người đón nhận: Đức Giêsu Kitô đã đến thế gian để cứu rỗi những người tội lỗi, mà kẻ đầu tiên là tôi” (1 Tm 1,15). Phaolô thẳng thắn bày tỏ cảm xúc của mình đối với các vị Tông đồ. Phaolô tố cáo Phêrô là đạo đức giả khi ngồi ăn cùng bữa với dân ngoại nhưng bỗng nhiên bỏ đi khi thấy các lãnh đạo Do Thái đến (Gl 2,11-17). Phaolô nhấn mạnh tính độc lập của ngài đối với Giám mục Giacôbê tại Giêrusalem.
Ngoài ra, khi bị hoài nghi là đã lạm dụng nguồn tài chính của giáo đoàn Côrintô, Phaolô thẳng thắn giải thích sự hiểu lầm. Khi bị tố là một kẻ phá hoại sự cao quý của truyền thống Do Thái giáo và đánh mất tính tinh tuyền của Lề Luật, Phaolô khẳng định là ngài không loại bỏ Kinh Thánh, nhưng thuyết phục dân Do Thái rằng mặc khải Kitô giáo chính là sự chú giải chính xác nhất về Cựu ước. Phaolô dùng các phương pháp chú giải của Do Thái giáo như ngụ ngôn khi nói về “hạt giống của Apraham”, hay ẩn dụ khi so sánh Haga với Sara, và phương pháp “Habacúc” khi trích dẫn các bản văn trước đó để hỗ trợ cho quan điểm của ngài. Nhưng Phaolô cũng cho rằng, Cựu ước như được ban bởi các thiên sứ qua trung gian Môsê nên không giúp gì nhiều cho ơn cứu rỗi. Tốt hơn, Cựu ước nên dùng như công cụ giáo huấn cho giới trẻ, giúp chúng xa lánh những cám dỗ của tội lỗi. Nhiều thư trong Tân ước được gán là của Phaolô nhưng hóa ra là mạo danh, có thể do các đồ đệ hay những người khác viết. Một số chi tiết về Phaolô trong sách Tông đồ Công vụ, vốn được viết sau rất nhiều năm, cũng không chính xác theo như các thư của ngài. Phaolô cũng là nhân vật độc nhất mà sử gia Josephus nhắc đến khi viết về nhóm Pharisêu.
Các thư của Phaolô cho chúng ta một bức tranh về vị Tông đồ đang chạy đua về cùng đích Nước Trời, trong khi sách Tông đồ Công vụ của Luca thì để lộ một hình ảnh ổn định hơn. Các thư của Phaolô mạnh dạn lên án lối sống vô luân và thờ phượng tà thần của dân ngoại, thì bài giảng của ngài tại đồi Marte tại Athêna trong Tông đồ Công vụ thể hiện sự đồng cảm với niềm khao khát chân lý của dân ngoại. Trong khi các thư của Phaolô chú tâm đến biến cố Thập Giá, sự công chính hóa do đức tin, tương quan giữa tội lỗi và ân sủng, và tính cấp bách của ngày tận thế, thì sách Tông đồ Công vụ nhấn mạnh về Phục Sinh và tinh thần phấn khởi nơi Giáo hội sơ khai. Ngoài ra, trong khi các thư của Phaolô bận tâm với vấn đề luân lý và linh đạo nơi các cộng đoàn mà ngài đã thiết lập, thì sách Tông đồ Công vụ quan tâm về số lượng dân ngoại cải đạo và giữ mối tương quan ôn hòa với Do Thái giáo.
Trong mười ba lá thư mang tên Phaolô, thì chỉ bảy thư là do chính tay Phaolô viết: 1 Thêxalônica, Galát, 1 và 2 Côrintô, Philípphê, Philêmôn và Rôma. Sáu thư khác có ngôn từ và nội dung bị nghi ngờ là: 2 Thêxalônica, Côlôxê, Êphêxô, cùng với các thư Mục vụ Titô, 1 và 2 Timôthê -- có lẽ được sáng tác sau khi Phaolô qua đời. Từ lời văn và cách lý luận của thư Do Thái (Hípri) các học giả có thể nhận ra đây là một mạo thư. Ngoài ra, một số bản văn có vấn đề về tính toàn vẹn vì chúng hàm chứa một số chi tiết mâu thuẫn nhau. Giám mục Inhaxiô cho biết các bản văn liệt kê trong danh sách Thư quy (150 CN) thì không thể được kiểm duyệt trước khi chúng xuất hiện vào khoảng 110 CN. Tính toàn vẹn của bản văn đòi hỏi sử gia phải tái cấu trúc không chỉ tư tưởng của Phaolô mà cả những gì các đối tác của ngài đang thực hiện.
Cho dù các thư của Phaolô được do thư ký viết, nhưng ngài thường ghi thêm hàng chữ riêng của mình. Những lời chào mở đầu hoặc cuối thư cho chúng ta một hé mở quan trọng về cơ cấu lãnh đạo nơi các cộng đoàn. Trong thư 1 Côrintô, Phaolô đang phân vân về sự chia rẽ, bị gây nên bởi một số nhà giảng thuyết lưu động giảng dạy các phiên bản Tin Mừng khác. Một số vấn đề luân lý được bàn đến, như trường hợp một người đàn ông sống với mẹ kế của mình. Phaolô không vui khi thấy các tranh chấp giữa Kitô hữu bị mang đến cho tòa án dân sự (Rôma) phán xử. Cũng có lưu tâm về những kẻ phô trương các đặc sủng thiêng liêng, cùng với những vấn đề về việc nói tiên tri hay nói tiếng lạ. Phaolô rất phiền hà với hiện tượng phân biệt giai cấp giữa các Kitô hữu và đối xử phân biệt giữa người giàu và kẻ nghèo trong cộng đoàn.
Các thư Êphêxô và 1 Timôthê cho thấy sự phát triển về cơ cấu trong các cộng đoàn Kitô hữu. Thư Êphêxô thiết lập một loạt các quy luật về đời sống gia đình như vai trò của người chồng, vợ, con cái và nô lệ. Thư 1 Timôthê mô tả phẩm tính phải có nơi các giám mục và phó tế, cho thấy các chức vị này đã được thiết lập nơi Giáo hội vùng Êphêxô. Các Giáo đoàn do Phaolô thành lập đã gặp nhiều khó khăn về sự hài hòa giữa thực hành Lề Luật Do Thái với thói quen của dân ngoại. Một mặt, Phaolô công nhận phụ nữ như là ngôn sứ, phó tế và Tông đồ (Gl 3,28), nhưng trong thư Mục vụ, ngài bảo phụ nữ phải giữ im lặng trong nhà thờ, tuân phục người chồng và phải che đầu khi nói tiên tri. Một mặt, Phaolô không phân biệt giữa Do Thái hay Hy Lạp, nam hay nữ và nô lệ hay tự do (Gl 3, 28), nhưng chính ngài cũng đã gửi trả một nô lệ về cho người chủ (Philêmôn) và khuyên bảo các nô lệ nên tiếp tục sống trong hoàn cảnh của họ (1 Cr 7,21-24), cũng như vâng phục chủ nhân của họ (Ep 6,5-9).
Các thư của Phaolô tỏ lộ một chiều hướng thần học, nhưng không phải là kết quả của suy tư hay sáng tác từ bàn giấy. Ngài có học thức nhưng theo đuổi sứ mệnh truyền giáo với những hy sinh và phục vụ; do đó, suy tư thần học của ngài gắn liền với đời sống thực tế. Linh đạo của ngài thường dứt khoát và đòi hỏi sự hoán cải qua việc cộng tác. Những khái niệm như công chính hóa bởi đức tin, vai trò của Thánh Thần, hay Giáo hội là chi thể của Đức Kitô được khai triển khi Phaolô đang giải quyết các bối cảnh mục vụ mà ngài đã tiếp xúc. Đây không phải là những tín khoản cứng nhắc nhưng thể hiện một tiến trình thay đổi về những quan tâm thần học, từ quan niệm thời giờ đã mãn ở giai đoạn đầu (1 & 2 Thêxalônica) cho đến vai trò của Giáo hội (Thư Galát), đến tính phổ quát của ơn cứu độ ở cuối hành trình truyền giáo (Thư Rôma). Qua các biến chuyển này, vẫn có một làn chỉ đỏ chạy xuyên suốt lộ trình suy tư của Phaolô, đó là chủ đề ơn cứu độ qua niềm tin vào Đức Kitô. Phaolô tiếp tục áp dụng chủ đề này vào cách ngài tiếp cận nhiều bối cảnh mục vụ và khán giả khác nhau.
Chủ đề Chúa Thánh Thần, nguồn cho trao ban sức sống và sự hoán cải, đóng vai trò quan trọng nơi các thư ở giai đoạn cuối của hành trình truyền giáo. Biểu tượng Giáo hội là Thân thể của Đức Kitô kết nối các thư của Phaolô, vốn được phát triển sâu rộng hơn qua thư Êphêxô. Ngoài ra, nhiều học giả cho rằng, có sự khác biệt giữa giáo lý của Phaolô vốn nhấn mạnh về sự công chính hóa qua đức tin và tâm điểm giáo huấn của Đức Giêsu về Nước Trời. Tuy nhiên, hai chủ đề này không hoàn toàn tách biệt, vì theo Phaolô, những kẻ đón nhận ơn Chúa, đặt niềm tin vào Đức Kitô và sứ mệnh của Ngài thì không còn sống dưới quyền lực của bóng tối (“trong Ađam”), vốn được biểu thị qua các khái niệm như bị kết án, áp bức tâm linh, bất tuân, ách nô lệ của tội lỗi và sự phù phiếm. Thay vào đó, những ai sống trong Nước Chúa, tức là sống “trong Đức Kitô”, thì đang tồn tại trong sự công chính, bước đi dưới ánh sáng của Thánh Thần, trong tinh thần vâng phục, tự do và chiến thắng. Những kẻ này sống trong sự mong chờ ngày họ sẽ được trải nghiệm cách hoàn hảo sự hiện diện của Đức Kitô.
Suy tư thần học của Phaolô được trình bày cách hệ thống nhất như qua thư Rôma. Phaolô viết thư này là để tạo mối tương quan hài hòa giữa dân Do Thái và dân ngoại đang sống chung với nhau tại Rôma.[3] Bố cục của Thư Rôma cho thấy mục tiêu này rõ ràng. Trong ba chương đầu, Phaolô chứng minh rằng cả người Do Thái lẫn dân ngoại đều là những tội nhân, do đó không nhóm nào có quyền khẳng định tính thượng đẳng của mình trên nhóm khác. Từ chương 4-8, Phaolô nhấn mạnh Thiên Chúa đã ban ơn cứu độ cho cả Do Thái giáo lẫn ngoại giáo, vì thế cả hai đều là đồng hàng với nhau trước Thiên Chúa. Trong các chương 9-11, Phaolô giải thích vai trò tương tác của cả hai nhóm này trong lịch sử cứu độ mà Thiên Chúa đã mặc định cho thế gian. Sau các chủ đề tín lý này, Phaolô giải quyết một số vấn đề thực tế trong cuộc sống vốn đã gây nên những tranh chấp giữa hai cộng đoàn này. Chương 12 chỉ ra rằng, cho dù có sự khác biệt nhưng các Kitô hữu nên tương tác với nhau như một thân thể hiệp nhất. Chương 13, Phaolô khuyên Kitô hữu, vì sự bình an trong xã hội, nên tuân phục cả thế quyền. Trước khi kết thúc lá thư, Phaolô nói về nhu cầu tôn trọng lẫn nhau về các tập tục văn hóa của Do Thái giáo lẫn ngoại giáo trong các chương 14-16. Thư Rôma là một ví dụ về suy tư thần học của Phaolô trong một nhu cầu cụ thể. Phaolô đã cung cấp một lý luận hợp lý và chặt chẽ, nhưng đây không phải là một mô hình của thần học hệ thống.
TƯƠNG QUAN GIỮA KITÔ GIÁO VÀ DO THÁI GIÁO
Các thư của Phaolô thường để lại nơi người đọc một cảm thức tiêu cực về Do Thái giáo, nhất là khi Phaolô chỉ trích quan điểm “công chính hóa nhờ việc làm” của họ. Thế nhưng, dân Do Thái tuân giữ Lề Luật vì họ tin đó là mệnh lệnh đến từ Thiên Chúa và là một phần của Giao Ước. Do Thái giáo không có sứ vụ truyền giáo hay lôi cuốn dân ngoại gia nhập Do Thái giáo để trở nên công chính. Căn cứ trên Lv 17-18, họ khai triển bảy điều luật gọi là “Nôê” (mitzvot) cho dân ngoại: cấm giết người, cấm ăn của lễ tế cho các thần hoặc chi thể của động vật sống, cấm các hành vi loạn luân, nhận biết Thiên Chúa độc nhất và từ bỏ tà thần, cấm trộm cắp, cấm thề thốt, và tuân thủ luật lệ do tòa án chính thức ban hành. Cộng đồng Do Thái lưu vong vẫn sinh hoạt chung với những người “kính sợ Thiên Chúa” vốn thân thiện với Do Thái giáo nhưng chưa sẵn sàng tuân giữ toàn bộ Lề Luật. Những người “kính sợ Thiên Chúa” sẽ là chiếc cầu nối giúp cho sứ mệnh rao giảng Tin Mừng của các Tông đồ tiếp cận dễ dàng hơn với dân ngoại.
Hầu hết người Do Thái không thể chấp nhận niềm tin Kitô giáo rằng một tội nhân bị đóng đinh thật sự là một vị Mêsia hùng mạnh của Thiên Chúa, và cho rằng cái chết của Đức Giêsu không phù hợp với Kinh Thánh. Nhưng các Kitô hữu vẫn xem Cựu ước là của mình, cho dù họ từ chối tuân phục nhiều Lề Luật trong đó. Nếu không có Kinh Thánh Do Thái, thì Kitô giáo cũng chỉ là một trào lưu mới thay vì một tôn giáo nghiêm túc; nhưng nếu chối bỏ Cựu ước, thì Kitô giáo sẽ tự cắt bỏ quá khứ của mình. Do đó, trong thế kỷ I đã có nhiều quan điểm đối nghịch đã xuất hiện liên quan đến vấn đề: Cựu ước thuộc về dân Do Thái hay Kitô hữu? Từ Tin Mừng Mátthêu cho đến các thư Phaolô, và từ lời chứng của Justinô Tử đạo cho đến các Thư Barnaba, mỗi bên đều có lý do để bênh vực quan điểm của mình. Các tài liệu sớm nhất cho thấy rằng có sự tranh chấp gay gắt giữa các nhóm Kitô hữu gốc Do Thái và Kitô hữu gốc dân ngoại. Sách Tông đồ Công vụ và các thư của Phaolô chỉ ra rằng, dân Do Thái không chỉ muốn loại trừ Tin Mừng Kitô giáo mà còn tỏ ra thù nghịch, tìm cách bách hại các Kitô hữu rao giảng về Tin Mừng này. Phaolô là người làm chứng cụ thể cho tình huống này; ngài cho biết trước khi trở nên một Tông đồ cho Đức Giêsu, chính ngài là một kẻ hăng say bách hại Kitô hữu. Sau khi gia nhập Kitô giáo, chính ngài bị bách hại bởi những người Do Thái. Kitô giáo bị đối xử như một thiểu số bè rối ồn ào, chống lại truyền thống và Lề Luật của Do Thái giáo.
Trong hai thập niên đầu, quan chức Rôma chưa phân biệt giữa Kitô hữu và dân Do Thái, như khi Hoàng đế Clauđiô (49 CN) đuổi cả dân Do Thái lẫn Kitô hữu khỏi Rôma. Nhưng đến thời Hoàng đế Nêrô, sự dị nghị đối với Kitô giáo tỏ ra rõ ràng hơn, nhất là qua cuộc đại hỏa ở Rôma (64 CN), chỉ Kitô hữu mới bị trừng phạt và sát hại dã man, không đá động đến người Do Thái. Qua những lần nổi loạn của người Do Thái tại Palestin, vốn đưa đến cuộc chiến ba năm và sự tàn phá cuối cùng của Đền Thờ Giêrusalem (70 CN), thì mới có những cuộc thanh trừng Do Thái giáo trong Đế quốc. Giữa các giáo đoàn Kitô hữu có sự đối xử phân biệt giữa Kitô hữu gốc Hy Lạp và Kitô hữu gốc Do Thái, vốn hãnh diện về truyền thống Lề Luật cổ kính của mình. Phaolô trách móc thái độ thiếu trung thực của Phêrô, vì khi thấy các lãnh đạo Do Thái giáo từ Giêrusalem vừa đến, Phêrô tránh ra không ăn uống chung với dân ngoại nữa (Gl 2,11-17). Các Kitô hữu gốc Do Thái cũng làm theo như vậy, một hành vi vốn làm gia tăng khoảng cách giữa hai nhóm Kitô hữu. Kitô hữu gốc dân ngoại bị xem như là công dân hạng hai trong Giáo hội. Công đồng Giêrusalem khẳng định rằng những dân ngoại đã cải đạo thì không phải cắt bì, miễn sao họ không phạm tội và tránh dùng một số thực phẩm bị cho là ô uế.
Tân Ước phản ánh hai lập trường đối nghịch về việc tuân giữ Lề Luật Do Thái. Tin Mừng Mátthêu nhấn mạnh tính bền vững của Lề Luật do Thiên Chúa ban: Đức Giêsu và các môn đệ, vốn là người Do Thái, đã sống trong truyền thống ấy; vì thế, những ai theo Đức Kitô cũng không thể tùy tiện bãi bỏ Lề Luật: “Trước khi trời đất qua đi, một chấm một phết trong Lề Luật cũng sẽ không qua đi” (Mt 5,18). Trái lại, thánh Phaolô xem việc buộc các Kitô hữu gốc dân ngoại phải tuân giữ Lề Luật Do Thái là xúc phạm đến công trình cứu độ của Thiên Chúa, bởi ơn công chính hóa đến từ Đức Kitô chứ không từ Lề Luật. Trong bối cảnh ấy, các nhà biện giáo Kitô giáo thời sơ khai khẳng định Kitô giáo là sự hoàn tất của Do Thái giáo Cựu Ước. Theo họ, Môsê và các ngôn sứ đã tiên báo về Đức Kitô, và chỉ Kitô hữu mới thực sự hiểu được ý nghĩa cứu độ vốn đã được Thiên Chúa hoạch định ngay từ công trình tạo dựng. Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ và con người theo hình ảnh của Người, và đến thời viên mãn thì chính Người nhập thể trong Đức Giêsu Kitô.
Justinô Tử đạo (thế kỷ II), một triết gia và nhà biện giáo xuất thân từ Samari, khẳng định rằng Kinh Thánh Do Thái đã tiên liệu về Đức Giêsu Kitô. Theo ông, Cựu Ước chỉ có ý nghĩa như sự tiền báo và tự nó không còn giá trị cứu độ sau khi lời hứa đã được hoàn tất trong Đức Kitô. Trong Hội thoại với Tryphô, Justinô lập luận rằng Lề Luật—bao gồm cả phép cắt bì—không phải là điều kiện để được công chính hóa, bởi các tổ phụ đã được nên công chính trước khi Lề Luật được ban hành. Lề Luật chỉ có chức năng kỷ luật dân Do Thái vì sự ngỗ nghịch của họ, cho đến khi Đức Kitô xuất hiện. Justinô còn cho rằng ngay từ trình thuật tạo dựng—“Chúng ta hãy tạo nên con người theo hình ảnh chúng ta” (St 1,26)—Thiên Chúa đã nói với Ngôi Lời, tức Đức Kitô, nhưng người Do Thái đã không nhận ra mạc khải ấy.
Lập trường này được đẩy xa hơn trong mạo thư Barnaba (khoảng 130 CN) tại Alexandria. Văn bản này cho rằng Cựu Ước ngay từ đầu đã là Sách Thánh của Kitô giáo và đã bị người Do Thái hiểu sai do cách đọc thuần văn tự. Các luật lệ về thực phẩm, ngày Sabbath, phụng tự Đền Thờ và phép cắt bì được giải thích theo lối ẩn dụ, như những dấu chỉ tiên báo về Đức Kitô. Theo đó, Kitô hữu mới là “dân được tuyển chọn”, còn dân Do Thái đã tự đánh mất giao ước ngay từ biến cố Bò Vàng. Quan điểm này thường bị phê phán là cực đoan vì hàm ý chiếm đoạt Kinh Thánh Do Thái trong khi phủ nhận việc tuân giữ Lề Luật.
Căng thẳng giữa Kitô giáo và Do Thái giáo đạt đến cao điểm với Mêlitô, giám mục Xácđi (cuối thế kỷ II). Trong bài giảng Phục Sinh—được tái phát hiện năm 1940—Mêlitô khẳng định rằng toàn bộ mầu nhiệm Vượt Qua trong Cựu Ước đã tiên báo về Đức Giêsu nhưng bị dân Do Thái chối bỏ. Vì Đức Giêsu là Thiên Chúa, việc từ khước và giết Ngài đồng nghĩa với việc “giết Thiên Chúa”. Đây là lần đầu tiên cáo buộc “Do Thái giết Thiên Chúa” xuất hiện rõ rệt trong tranh luận Kitô–Do Thái, đặt nền móng cho việc xem dân Do Thái như kẻ bội giáo.
Sau khi Hoàng đế Constantine chấm dứt các cuộc bách hại Kitô giáo, Giáo hội nhanh chóng phát triển và thu hút tầng lớp cầm quyền; đến cuối thế kỷ IV, Kitô giáo chiếm khoảng một nửa dân số Đế quốc và trở thành quốc giáo dưới thời Hoàng đế Thêôđôxiô (380 CN). Trớ trêu thay, sự thành công ấy lại mở đầu cho việc bách hại Do Thái giáo. Dưới triều Constantine, dù không có luật chính thức cho phép bạo hành, nhiều hành vi đốt phá hội đường và tịch thu tài sản Do Thái đã bị bỏ mặc. Não trạng bài Do Thái dần biến một tôn giáo từng được bảo hộ thành một cộng đồng thiểu số bị gạt ra bên lề xã hội.
[1] Alan Segal, Paul the Convert: The Apostolate and Apostasy of Saul the Pharisee (1992).
[2] Wayne Meeks, ed., The Writings of St. Paul (2007).
[3] James Dunn, The Theology of Paul the Apostle (2006).
Chưa có Đánh giá/Bình luận nào được đăng.
Hãy trở thành người đầu tiên đóng góp nội dung cho Bài viết này.