Skip to content
Main Banner

Đạo Đức Học Bổn Phận: Nguyên Tắc Và Áp Dụng (Ethics of Duty/Deontology)

BTT HOCVIEN OFMVN
2024-05-05 10:10 UTC+7 119

Đạo Đức Học Bổn Phận: Nguyên Tắc Và Áp Dụng (Ethics of Duty/Deontology)


1695433307-dao-duc-hoc-bon-phan.png

Ngày 17 tháng Ba năm 1912, Lawrence Oates, một sĩ quan và là nhà thám hiểm người Anh, đã chọn cái chết bằng cách đi vào cơn bão tuyết để các bạn của ông được tiếp tục cuộc hành trình tìm đến các trại tiếp tế kế tiếp ở Nam Cực. Cái chết của Lawrence được xem như là hành vi hy sinh mạng sống, khi biết mình không thể sống sót vì bị thương rất nặng. Lawrence muốn giải thoát cho các bạn đồng hành khỏi trách nhiệm ở lại chăm sóc mình, trong khi ông không biết cơn bão tuyết lúc nào sẽ chấm dứt. Đạo đức học “Bổn phận” sẽ nói gì về sự chọn lựa của Lawrence Oates? Đạo đức học Bổn phận đòi hỏi phải luôn tôn trọng sự tự do và bình đẳng trong cách đối xử với tha nhân.

Xem: https://en.wikipedia.org/wiki/Lawrence_Oates:

 

 

ĐẠO ĐỨC HỌC BỔN PHẬN CỦA KANT

Kant muốn tạo nên một nền tảng mới cho đạo đức học, bằng cách hoàn toàn dựa trên ý chí và theo đuổi sự thiện vì chính nó chứ không phải vì lợi ích được mang lại. Theo Kant, không gì có thể được gọi là thiện hảo hoàn toàn ngoài ý chí thiện hảo. Nhưng để kiểm chứng chúng ta có thật sự đang theo đuổi ý chí thiện hảo hay không, thì Kant dùng khái niệm “mệnh lệnh tuyệt đối” (Categorical Imperative) như là một bài trắc nghiệm. Cho dù ảnh hưởng của Kant trong triết học đạo đức thật là bao quát và mang tính cách mạng, nhưng phương pháp trắc nghiệm “mệnh lệnh tuyệt đối” còn mang nhiều trở ngại và cần phải thêm nhiều bổ túc khác nữa khi áp dụng.

Có hai nền tảng lý luận của đạo đức học: nền tảng “tốt/xấu” và nền tảng “đúng/sai”. Nền tảng tốt/xấu cho rằng, một học thuyết đạo đức nên phán đoán dựa vào hiệu quả tốt/xấu mà một hành vi có thể mang lại cho cá nhân hay xã hội. Nền tảng đúng/sai thì phán đoán theo động lực nội tâm hay ý chí muốn theo đuổi sự thiện của một chủ thể. Trong tác phẩm Những nền tảng Siêu hình về Đạo Đức học (Foundations of the Metaphysics of Morals, 1785), Kant cung cấp một hình thức đạo đức học rất xúc tích dựa trên động lực nội tâm, hay ý chí muốn theo đuổi sự thiện vì chính nó, nhưng hình thức này lại “mỏng” về các chiều kích xã hội. Một ý chí là thiện hảo không vì ảnh hưởng và hiệu quả của nó, hay vì khả năng đạt mục tiêu đang mong muốn, nhưng vì ý muốn theo đuổi sự thiện của chính nó. Cách lý luận của Kant thì nhất quán và phổ quát, nhưng các sáng tác của ông thì không dễ để có thể hiểu được.

Theo Kant, muốn cho lý tưởng “theo đuổi sự thiện vì chính nó” trở nên một học thuyết đạo đức, thì trước tiên ý chí thiện hảo đó phải được xem như là bổn phận của mọi chủ thể, tức là bổn phận sẽ trở thành nguyên tắc luân lý để phán đoán mọi hành vi. Nguyên tắc này phải được áp dụng ở bất cứ đâu và cho bất cứ ai. Nội dung của nó đến từ các điều kiện mà nó đưa ra qua phép thử hiệu quả của “mệnh lệnh tuyệt đối”. Khi phán đoán một hành vi, chúng ta buộc phải tự hỏi mình rằng liệu chúng ta có sẵn sàng tuân theo mệnh lệnh để tìm kiếm sự thiện vì chính nó không? Tức là, liệu chúng ta có muốn quy tắc luân lý giả định bởi hành vi của mình trở thành quy luật phổ quát, để áp dụng cách bình đẳng trong sự tôn trọng tự do của tất cả mọi người không? Hai điều kiện “bình đẳng” và “tự do” sẽ có những cách trắc nghiệm riêng của chúng. Nếu có sự đồng thuận thì hành vi đó là đúng và được phép, còn nếu không thì hành vi đó là sai. 

Kant dùng một ví dụ để minh họa điểm này. Tôi có được phép hứa một điều gì mà không có ý định giữ lời hứa đó không? Câu trả lời chắc chắn là “không”. Bởi vì, nếu tôi muốn phổ quát hóa hành vi đó, thì tôi sẽ phải nói rằng mọi lời hứa phải đi đôi với ý định giữ lời hứa đó; còn nếu không có ý định giữ lời hứa, thì tình huống “hứa” đó sẽ trở thành vô nghĩa - vì mọi người khó mà tin nhau được. Như thế, việc không có ý định giữ lời hứa không thể phổ quát hóa được, vì nó sẽ rơi vào tình trạng tự mâu thuẫn với chính mình, và vì không ai muốn người khác thất hứa với mình. Do đó, hành vi này là sai.

Hãy xét về hành vi nói dối hay gian lận. Cả hai hành vi này là sai, bởi vì tôi không thể phổ phát hóa các hành vi này thành những quy tắc luân lý phổ quát mà tất cả mọi người sẽ phải tuân theo được. Khi tôi nói dối hay gian lận, nhưng đồng thời lại không muốn tất cả mọi người trên thế giới được phép nói dối hay gian lận với tôi, bởi điều ấy sẽ trở nên bất lợi cho tôi vì nó sẽ bào mòn mục đích đang đứng đằng sau việc nói dối hay gian lận của tôi. Một ví dụ khác là tự vẫn để bảo vệ danh dự. Cho dù chúng ta có thể nghĩ rằng, tự vẫn để khỏi rơi vào tay kẻ thù là điều cao thượng đối với một vị tướng lãnh. Tuy nhiên, quy luật luân lý mà hành vi tự vẫn theo đuổi lại mâu thuẫn với quy tắc đến từ trách nhiệm chiến đấu của một chiến sĩ ngoài mặt trận. Vì thế, hành vi này chưa chắc sẽ được mọi người tuân theo.

Ngoài các khó khăn về việc áp dụng, Đạo đức học Bổn Phận còn gặp vấn đề trong cách mô tả động lực đang đứng đằng sau một hành vi. Hành vi ‘con cái ngừng hệ thống hỗ trợ sự sống nhân tạo cho cha mẹ, vốn đã bị hôn mê (coma) lâu dài’ có thể được mô tả qua hai cách rất khác biệt. Hành vi này có thể được hiểu như là việc cho phép cha mẹ ra đi với phẩm giá xứng đáng của một con người khi không còn hy vọng hồi tỉnh. Thế nhưng, quyết định này cũng ngầm chứa một ý nghĩa là: con cái sẽ sớm được thừa hưởng một gia tài kếch xù. Qua cách mô tả thứ nhất thì hành vi này có thể vượt qua các trắc nghiệm của Đạo đức học Bổn phận, nhưng dưới cách mô tả thứ hai thì không. Trong trường hợp này, “mệnh lệnh tuyệt đối” không thể giúp chúng ta quyết định gì hết, và như thế, nó không thể là một nền tảng đạo đức đầy đủ. Học thuyết Bổn phận của Kant chú tâm đến tính nhất quán giữa hành vi và quy luật luân lý được giả định bởi hành vi đó, mà không lưu tâm đến hiệu quả có thể mang lại. Yêu sách phổ quát hóa của Kant rất dễ rơi vào sự mâu thuẫn, vì nó xem thường tầm quan trọng của hiệu quả.


HAI GIÁ TRỊ NỀN TẢNG CỦA ĐẠO ĐỨC HỌC BỔN PHẬN

Đạo đức học Bổn phận có hai giá trị nền tảng; và từ đó, có hai nguyên tắc áp dụng (trắc nghiệm) được dùng để xét một hành vi có phù hợp với các giá trị đó hay không. Giá trị “bình đẳng” có thể trắc nghiệm cho chính mình, và giá trị “tự do” có thể trắc nghiệm được khía cạnh tiêu cực/tích cực. Giá trị bình đẳng đòi hỏi chúng ta phải luôn đối xử với tha nhân như mình muốn được đối xử (Luật Vàng). Giá trị tự do buộc chúng ta phải cho phép người khác sự tự do để theo đuổi mục đích của họ, thay vì dùng họ như phương tiện để phục vụ cho mục đích của mình. Cả hai giá trị này phải được tôn trọng cùng một lúc. Nếu chỉ cư xử với tha nhân như bạn muốn được đối xử (bình đẳng), thì cách bạn nhận thức về khoái cảm, ưa thích và ước muốn có thể bị méo mó và thiếu lành mạnh đối với người khác. Mặt khác, nếu chỉ tôn trọng tự do của tha nhân, thì bạn có thể biện hộ cho sự lãnh đạm và vô cảm của mình trước những đau khổ hoặc tà tâm của người khác, vì cho rằng họ đang theo đuổi mục đích của chính họ. Đạo đức học Bổn Phận nhấn mạnh vào sự “tôn trọng” đối với người khác như một tác nhân luân lý, có tự do hoàn toàn để theo đuổi mục tiêu của họ mà không có bất kỳ ép buộc nào từ bên ngoài. Chỉ khi ta giả định sự tự trị luân lý của mọi người, thì ta mới có thể tôn vinh hành vi này là anh hùng hoặc kết án một hành vi khác là xấu xa.


HAI NGUYÊN TẮC CỦA ĐẠO ĐỨC HỌC BỔN PHẬN

Từ hai giá trị bình đẳng và tự do, Đạo đức học Bổn phận đưa ra hai nguyên tắc (trắc nghiệm). Nguyên tắc “phổ quát hóa” xem bạn có thể tán thành sự đồng thuận của mọi người về quy tắc luân lý giả định bởi hành động của bạn không. Nếu bạn tán thành điều này, thì hành động đó thỏa mãn giá trị bình đẳng. Nguyên tắc “phương tiện/cứu cánh” dùng để xét hành vi của bạn có thật sự tôn trọng sự tự do của tha nhân hay không, như là những chủ thể có cứu cánh riêng của họ thay vì chỉ là phương tiện cho mục tiêu của bạn. Nguyên tắc này có hai cách trắc nghiệm: tiêu cực và tích cực.


Nguyên tắc Phổ quát

Một hành động được xem là đúng, nếu bạn tán thành việc tất cả mọi người áp dụng cùng một quy tắc luân lý được giả định bởi hành động của bạn. Nếu mọi người trên thế giới hành động theo quy tắc này, thì nó có bào mòn điều kiện cần thiết hay khả năng hành động của bạn không? Nếu bạn đồng ý mà không có bất kỳ trở ngại nào, thì quy tắc này vượt qua “trắc nghiệm chính mình”. Ví dụ: quy tắc luân lý ‘đứng sau hành vi gian lận trong cuộc thi’ sẽ không vượt qua được trắc nghiệm chính mình; bởi vì, nếu mọi người đều gian lận, thì mục tiêu đạt điểm cao của bạn sẽ bị đánh bại và bạn sẽ không đồng ý như thế. Trắc nghiệm chính mình chỉ là điều kiện tối thiểu, chứ chưa phải là đủ cho lý tưởng theo đuổi sự thiện vì chính nó. Trong thực tế, quy tắc “đừng bao giờ nói dối” thì quá rộng, vì đôi khi người ta cần nói dối để cứu một sự sống vô tội. Quy tắc này có thể được thu hẹp thành: “cần nói thật với những người có trách nhiệm biết sự thật.” Nếu quy tắc luân lý đứng sau hành vi không vượt qua được trắc nghiệm chính mình, thì hành vi không được phép.


Nguyên tắc Phương tiện/Cứu cánh

Có hai cách trắc nghiệm xem một hành vi có thỏa mãn nguyên tắc “chúng ta phải cư xử với mọi người như là cứu cánh và không được đơn thuần như một phương tiện”.

(a) Trắc nghiệm tiêu cực: Bạn có cư xử với người khác như một phương tiện cho mục đích của bạn hay không? Hành động của bạn có cản trở tự do và hạnh phúc của người khác hay không? Nếu câu trả lời là “có”, thì hãy xét xem nguyên tắc “tước đoạt” có biện minh cho hành vi này được không (ví dụ, hành vi bắt giữ tên trộm để giao cho công an là cản trở quyền tự do, nhưng được nguyên tắc tước đoạt biện hộ). Thế nhưng, hành vi tước đoạt cũng phải phù hợp với nguyên tắc “bình đẳng” nữa (gây tổn thương cho kẻ ăn trộm chó thì không bình đẳng đối với hành vi ăn trộm). Cũng thế, quan hệ tình dục để giúp cặp tình nhân hiểu biết nhau hơn trước khi quyết định tiến tới hôn nhân là sự lẫn lộn giữa “phương tiện” và “cứu cánh”. Mặt khác, cấm người có tiền sử ấu dâm tiếp xúc với trẻ em thì được biện hộ bởi nguyên tắc tước đoạt, nhưng án tử hình cho kẻ gây ra tai nạn vì bất cẩn thì không thỏa mãn nguyên tắc bình đẳng.

(b) Trắc nghiệm tích cực: Cần xem hành vi có góp phần vào tự do và hạnh phúc của người khác hay không? Nếu bạn trả lời “có”, thì hành vi của bạn vượt qua trắc nghiệm tích cực. Tuy nhiên, khó mà biết hành vi nào của bạn có thể góp phần vào cứu cánh của người khác. Ví dụ, hành vi cho tiền kẻ vô gia cư vì nghiện rượu ở Mỹ thì chưa chắc sẽ bảo đảm mang lại phúc lợi cho họ, hay việc bố thí cho các sư giả hành khất ở Việt Nam có thể vô tình làm gia tăng một tệ nạn xã hội. Trong lúc đó, hành vi cấm đoán (ép buộc luân lý giữa bác sĩ - bệnh nhân; luật sư - thân chủ; cha mẹ - con cái) được xem là tích cực, nếu sự tự do của bệnh nhân, con cái, thân chủ đưa đến nhiều nguy hiểm hơn nữa.


PHÁN ĐOÁN THEO ĐẠO ĐỨC HỌC BỔN PHẬN

Đạo đức học Bổn phận được áp dụng cho các tương quan cá nhân, tha nhân hay xã hội. Về cá nhân, chúng ta có bổn phận không được hủy bỏ chính mình, nhưng phải biết giữ gìn sức khỏe thể lý và tinh thần. Đôi khi tự vẫn được chấp nhận, nếu nhân phẩm được xem có giá trị cao hơn sự khổ nhục hoặc đau khổ mà tha nhân đang phải gánh chịu. Chấp nhận chết thay cho người khác, vì muốn thể hiện lòng bác ái hay giúp tha nhân đạt đến cứu cánh của họ (Lê Lai cứu Lê Lợi), cũng được cho là cao thượng. Đối với tha nhân, chúng ta có bổn phận luôn tôn trọng cứu cánh của họ, và không được dùng người khác như là một phương tiện cho mục đích của mình. Dùng quan hệ tính dục giữa hai người như là điều kiện để hiểu biết nhau hơn trước khi tiến tới hôn nhân là sự lẫn lộn giữa phương tiện và cứu cánh. Cuối cùng, xã hội có bổn phận bảo vệ quyền lợi của người dân như: quyền được sống, quyền được mưu sinh, quyền được tự do tín ngưỡng, quyền được bày tỏ quan điểm chính trị, quyền được đối xử công bằng, và ngay cả những quyền căn bản của một tội phạm nữa. Một cách tích cực, xã hội có bổn phận thăng tiến tự do và hạnh phúc của người dân qua các chương trình giáo dục, y tế, phúc lợi cộng đồng và bảo vệ những người thấp cổ bé họng. Việc đánh thuế người giàu để giúp người nghèo được biện minh bởi nguyên tắc phương tiện cứu cánh.


Tiến trình Phán đoán của Đạo đức học Bổn Phận:

1) Thẩm định quy tắc phù hợp nhất được giả định bởi hành động của bạn.

2) Dùng “trắc nghiệm chính mình” để xem quy tắc đứng sau hành vi của bạn có thật sự phổ quát hóa (áp dụng cho tất cả cùng một lúc) hay không?

3) Dùng “trắc nghiệm tiêu cực” để xem hành vi của bạn có phù hợp với nguyên tắc phương tiện/cứu cánh trong cách đối xử với người khác hay không?

- Nếu “trắc nghiệm tiêu cực” không vượt qua được, thì xét xem hành vi có được biện hộ bởi nguyên tắc tước đoạt, và phù hợp với nguyên tắc bình đẳng hay không?

- Nếu thích hợp, thì có thể dùng thêm “trắc nghiệm tích cực” (để xem hành vi có giúp người khác đạt tự do hay không?).

4) Cuối cùng, hãy phán đoán các chọn lựa theo ba phạm trù:

- Cấm: Nếu hành vi không vượt qua được một trong hai “trắc nghiệm phổ quát hóa`” hoặc “trắc nghiệm tiêu cực”.

- Cho phép: Nếu hành vi vượt qua cả hai “trắc nghiệm chính mình” và “trắc nghiệm tiêu cực”.

- Bắt buộc: Nếu hành vi cho phép, nhưng sự chọn lựa ngược lại bị cấm.

- Cao thượng: Nếu hành vi đúng và vượt ra ngoài phạm vi bắt buộc.


ÁP DỤNG ĐẠO ĐỨC HỌC BỔN PHẬN

Các đoàn thám hiểm Nam Cực thường gặp bão tuyết kéo dài nhiều tuần. Khi nhận biết mình không thể qua khỏi cơn bạo bệnh và chỉ làm giảm thời gian và cơ hội sống sót của nhóm, Lawrence Oates đã tự vẫn bằng cách âm thầm đi vào cơn bão tuyết để các bạn có thể tiếp tục cuộc hành trình đến các trạm cấp cứu kế tiếp mà tìm thức ăn. Hành vi tự vẫn của Lawrence có thể vượt qua các trắc nghiệm của Đạo đức học Bổn phận không?


Phân tích:

Vấn đề Sự kiện: Tự vẫn có thực sự cứu sống các bạn qua cơn bão hay không? Các giả định (bão tuyết còn kéo dài, người bệnh sẽ không qua khỏi, thức ăn và nước uống, khả năng chịu đựng, v.v.) có chính xác không? Động lực nào đứng sau chọn lựa tự vẫn? Có cách nào khác cứu mọi người mà không phải tự vẫn?

Vấn đề Khái niệm: Bệnh nhân muốn tự vẫn để phái đoàn tiếp tục cuộc hành trình qua cơn bão. Vậy, hành vi tự vẫn vừa có ý nghĩa hy sinh chính mình để “cứu nhiều mạng sống khác”, hay muốn chấm dứt đau đớn, hay tránh trở thành gánh nặng cho bạn bè, hay để theo đuổi lý tưởng mạo hiểm cao đẹp.

Vấn đề Đạo đức: Tự vẫn có thể giúp các bạn đồng hành có đủ thời giờ tiếp tục cuộc hành trình đến trạm tiếp tế để sống qua cơn bão. Tuy nhiên, khi bệnh tình của mình khó qua khỏi mà buộc phái đoàn phải ở lại, thì điều này sẽ làm giảm khả năng sinh tồn cho tất cả mọi người nếu cơn bão kéo dài. Hai giá trị đang được cân nhắc ở đây là: (1) Cho phép tha nhân tự do theo đuổi mục đích, cho dù phải chấm dứt cuộc sống của mình; và (2) Bảo vệ sự sống mình, cho dù có khả năng gây nguy hiểm đến tính mạng tha nhân.

Các chọn lựa: (a) Tự vẫn (đi vào trong cơn bão tuyết mà không cho ai biết); (b) Để các bạn ở lại và tiếp tục chăm sóc cho đến phút cuối; (c) Thuyết phục các bạn tiếp tục hành trình vì lợi ích chung.

Lý luận:

Đạo đức học Bổn phận đòi hỏi cả hai điều kiện bình đẳng và tự do phải được tôn trọng: (I) Luôn đối xử với tha nhân như chính mình muốn được đối xử (Phổ quát hóa), và (II) Hãy để tha nhân tự do theo đuổi mục đích riêng của họ (Cứu cánh/Phương tiện).

Phổ quát hóa bằng “trắc nghiệm chính mình”: Khi chọn tự vẫn, Lawrence chấp nhận việc phái đoàn bỏ anh ta ở lại và tiếp tục cuộc hành trình đến trạm tiếp tế để tìm thức ăn. Nhưng quy tắc luân lý giả định bởi hành vi tự vẫn thì chưa chắc sẽ được phổ quát hóa, vì có thể một vài người sẽ phản đối việc bỏ lại bạn đồng hành đang đau nặng. Họ sẽ lý luận rằng, quy tắc “bảo vệ khả năng tìm thức ăn thì quan trọng hơn là chăm sóc bạn đồng hành đang lâm trọng bệnh” thì mâu thuẫn với tinh thần gắn bó đồng đội, vốn rất cần thiết cho nhóm thám hiểm. Nếu không có sự đồng thuận, thì điều kiện (I) không vượt qua!

Cứu cánh/Phương tiện bằng “trắc nghiệm tiêu cực”: Khi tự vẫn, Lawrence có dùng người khác như là phương tiện cho cứu cánh của chính anh không? Chắc chắn là không, vì anh ta chấm dứt cuộc sống sớm để người khác có cơ hội sống qua cơn bão. Nguyên tắc tước đoạt cũng không áp dụng được, vì không có ai vô tội bị hại. Nguyên tắc bình đẳng cũng không bị xúc phạm, vì Lawrence đang tôn trọng tha nhân như là cứu cánh cho chính họ. Do đó, điều kiện (II) vượt qua!

Bởi vì, hành vi “tự vẫn” chỉ thỏa mãn điều kiện (II) mà không thõa mãn điều kiện (I). Do đó, chúng ta sẽ phán đoán các chọn lựa như thế này*:

- Cấm/không nên: (a) Tự vẫn

- Cho phép: (b) Phái đoàn vẫn phải ở lại giúp đỡ, cho đến khi anh ta bình phục hay chết tự nhiên.

- Cao thượng: (c) Thuyết phục phái đoàn tiếp tục hành trình đến trạm tiếp tế kiếm thức ăn hầu để sống sót qua cơn bão.

* Trường hợp này còn nhiều yếu tố không chắc chắn (sức khỏe, thời gian cơn bão kéo dài, khả năng sinh tồn của phái đoàn, khả năng phục hồi sức khỏe), nên mọi phán đoán cũng chỉ là phỏng đoán.


Tài liệu tham khảo:

C.E. Harris Jr. Applying Moral Theories. Wadsworth Publishing Company, 1997.

Immanuel Kant. Foundations of the Metaphysics of Morals, Pearson Publisher, 1989. (Grundlegung zur Metaphysik der Sitten, 1785).

Joseph Tân Nguyễn, OFM. Đạo Đức Học Tổng Quát. Nhà xuất bản Đồng Nai, 2021.


Chia sẻ