PHANXICÔ ASSISI (5) - NHỮNG NĂM ĐỐI ĐẦU (1220–1221)
Phanxicô Assisi. V
NHỮNG NĂM ĐỐI ĐẦU (1220–1221)
Michael Cusado, OFM
Khi giao tranh khốc liệt nhất sẽ xảy ra trong năm kế tiếp (1221), Phanxicô và bạn đồng hành lại xuất hiện ở Acre. Tại đây, theo biên niên sử của Jordan, có lẽ vào cuối mùa xuân hoặc đầu mùa hạ năm 1220, một anh em—chúng ta chỉ biết khá muộn tên là Stêphanô xứ Narni—đã bất ngờ đến thành cảng, không theo lệnh vâng phục, mang theo tin khiến bối rối. Rõ ràng hai đại diện được giao trông coi ở Ý, được một số giáo sĩ (không nêu tên) tiếp tay, bắt đầu đưa ra vài quyết định đi ngược ý muốn của đấng sáng lập và tinh thần của huynh đoàn sơ khai. Rất xao động, Phanxicô bắt đầu chuẩn bị trở về nhà để cố “chỉnh hướng con thuyền”.
Đang xảy ra chuyện gì? Có ba mối quan ngại chính.
Những diễn tiến và lệch hướng
Vấn đề chủ yếu khiến Stêphanô lo lắng là: ngay sau khi Phanxicô lên đường sang Đông phương, hai đại diện mà ngài để phụ trách phong trào—Grêgôriô Napoli và Matthêu Narni—đã triệu tập một hội nghị anh em (có thể sớm ngay cuối tháng 9 năm 1219 trong một tổng tu nghị cấp tỉnh Toscana/Assisi, hoặc có lẽ tháng 5 năm 1220 cho toàn các tỉnh ở Ý) để soạn một bộ quy định chay tịnh mới, khắc khổ hơn cho cộng đoàn. Hành động lập pháp này lại khác hẳn với việc chay tịnh đang được Luật Sơ khởi quy định. Mục tiêu của các quy định mới là làm cho Anh Em Hèn Mọn ăn khớp với những chế độ chay tịnh cố định, nghiêm ngặt của các dòng đan tu truyền thống: nói cách khác, biến các anh em thành những “tu sĩ thứ thiệt” trong Giáo hội!
Phanxicô và các anh em đầu tiên hẳn đã phản đối thay đổi này trong phong hóa của mình. Quả vậy, là những người lữ hành thi hành sứ vụ giữa đời, các anh em giữ chay kiêng thịt hai ngày hằng tuần (thứ Tư và thứ Sáu) và hai mùa chay dài vốn quen thuộc trong toàn Giáo hội. Khác với các dòng đan tu theo một thời biểu (horarium) cố định hằng ngày với những giờ giấc chặt chẽ cho việc kiêng và chay, các anh em sơ khai chỉ đặt ra vài mốc cho khổ hạnh của mình, rồi—theo lệnh truyền Tin Mừng—ăn bất cứ thứ gì họ nhận được như “tiền công” cho lao nhọc của họ hoặc do xin ăn. Thực vậy, đó là “nhịp sống” của người nghèo bất đắc dĩ; họ—cũng như các anh em, những người nghèo tự nguyện—không có cái “xa xỉ” như các đan sĩ để ấn định một chế độ ăn uống hằng ngày. Họ sẽ ăn những gì đặt trước mặt mình, như người nghèo. Mục đích là để anh em sống như người nghèo sống. Các quy định mới, nói cách khác, đi ngược lại thế đứng quan trọng và có chủ ý này trong đời sống của anh em.
Thứ hai, liên quan đến “Quý Bà Nghèo”, anh em được đặt phụ trách trông coi họ, Philíppê “Cao”, vì quá lo cho phúc lợi của các chị, đã tiếp cận Giáo triều Rôma hy vọng xin được một thư bảo hộ. Mục đích của đặc ân này là bảo đảm không một thế lực bên ngoài nào—dù là giám mục địa phương hay chính quyền—được xâm phạm nơi chốn (loca) hay con người của họ, không được chiếm đất đai hay can thiệp vào đời sống của họ, nếu phạm sẽ bị vạ tuyệt thông. Dù chẳng có đặc ân chính thức nào như thế được tìm thấy, việc nó đang được cân nhắc đã đi ngược sở thích của Phanxicô là lặng lẽ thuyết phục những tiếng nói trái chiều nhờ sự ngay thẳng của lý tưởng và nếp sống, và sống—một lần nữa, như người nghèo—“phó mặc” cho lòng thương của người khác. Điều này phù hợp với lập trường ghi trong Luật Sơ khởi (và như ta vừa thấy trong bản tái soạn chương 16, câu 6): sống như “minores et subditi omnibus” (như những người ở dưới quyền và tùy thuộc mọi người).
Thứ ba, một động lực tương tự như bức thư bảo hộ đã nói, gởi chung cho các vị giáo phẩm và lãnh đạo tu trì trong Giáo hội, dường như cũng hiện diện trong một thư mới gởi riêng cho các vị hữu trách ở Pháp, Pro dilectis filiis (29/5/1220). Sắc chỉ này trao thêm sự bảo vệ cho anh em và sứ vụ ở các lãnh thổ ấy, nhưng cũng kèm đe dọa vạ tuyệt thông. Hơn nữa, Jordan thuật một diễn biến thú vị tại vùng Assisi: cùng thời, một người tên Gioan Capella (hoặc theo nguồn khác: de Laudibus) được cho là đã tự ý tập hợp quanh mình một số người phong và quyết định rời dòng để trở thành lãnh đạo một “giáo đoàn” gồm những người như vậy. Nhưng cũng có thể—thậm chí có lẽ—Gioan thực ra chỉ gom một nhóm những Kitô hữu bị gạt ra bên lề và bất mãn ấy tại hai nhà phong ở cánh đồng Assisi thành một hình thức sớm sủa của nhóm hối nhân giáo dân, độc đáo ở chỗ gồm những người vốn bị cấm tham gia các nhóm hối nhân khác ở trong hoặc quanh Assisi. Vì như thế hẳn hoàn toàn phù hợp với tinh thần huynh đoàn sơ khai, và là một giải pháp mới mẻ đáp ứng nhu cầu tôn giáo của những kẻ bị cô lập khỏi cộng đồng Kitô hữu trong thị trấn hay ở vùng nông thôn. Thực vậy, sau khi được khiển trách, Gioan vẫn tiếp tục sống trong ơn nghĩa của Phanxicô và của dòng.
Một bất ngờ khó chịu ở Bologna
Bị xáo động vì tin do Stêphanô Narni mang tới, Phanxicô và các bạn ở Acre rất có thể đã tìm tàu trở về Ý và tới miền Bắc vào cuối tháng 8 hoặc đầu tháng 9 năm 1220. Trên đường về Assisi, họ đi ngang Bologna—thành phố đại học đang hưng thịnh, nơi Anh Em Hèn Mọn đã lập một cơ sở ngoài thị trấn vài năm trước. Trái lại, Dòng Đa Minh đã đặt một trong các cơ sở trung tâm trong chính thành phố, gần khu đại học. Tới nơi, Phanxicô sững sờ thấy Anh Em Hèn Mọn—do một luật gia rất được kính trọng vừa gia nhập, Phêrô xứ Stacia, dẫn dắt—đã dời nơi cư trú vào trong thành (hoặc sát tường thành), bỏ chỗ cũ trong rừng. Lý do có thể đoán: để, như Đa Minh, gần đại học hơn và vì thế dễ thu hút ơn gọi hơn. Như ta biết, Phanxicô kinh hãi vì anh em bỏ nơi ở giữa đám villani (nông dân) để vào thị trấn đang phát triển, và ngài từ chối không bước vào tu viện mới. Đây lại là một diễn biến khác trong lúc ngài vắng mặt. Không phải ngài phản ứng thái quá với chuyện học hành tự thân (dù nơi mới thực sự như một studium sơ khai); vấn đề là họ đã bỏ sự gần gũi với minores trong vùng để tiến gần “trung tâm” đô thị đại học—thêm bằng chứng cho thấy sự xa rời các chọn lựa ban đầu, vì thiếu hiểu nền tảng của các chọn lựa ấy.
Một lời khiển trách bất ngờ ở Viterbo
Bực bội vì chuyện ở Bologna, Phanxicô và anh em rời thành để trở về Assisi. Có thể trên đường đi, ngài hay tin Tòa Thánh triệu ngài đến triều đình Giáo hoàng đang ngụ tại Viterbo. Có lẽ ngài ghé Assisi trên đường xuôi Nam, ở đó có vẻ ngài đã đụng đến những vấn đề do hành động của Philíppê “Cao” (liên quan “Quý Bà Nghèo”) và Gioan Capella (liên quan nhóm hối nhân người phong ở ngoại ô Assisi) gây ra. Đến Viterbo, ngài gặp sự bất bình trong Giáo triều về vài tường trình—kể cả từ Jacques de Vitry—về tình trạng thiếu kỷ luật và tự do phóng túng nơi một số anh em cả ở Thánh địa lẫn (đặc biệt) tại châu Âu. Huynh đoàn—năm năm sau khi được Latêranô IV “hợp thức hóa”—đang thu hút vô số ơn gọi, nhưng theo đánh giá của các hồng y, lại thiếu sự huấn luyện thích đáng về kỷ luật và cung cách tu trì từ phía các nhà lãnh đạo. Quả thật, như ta đã thấy, “Anh Em Hèn Mọn”—không bị ràng buộc vào một đan viện/tu viện nhất định, không nhất thiết bị giới hạn bởi ranh giới giáo phận hay giáo tỉnh—là một thực thể ngoại lệ. Một trong những điểm ngoại lệ là sự tự do đi lại, nhân danh sứ vụ rao giảng thống hối và bình an. Điều này không hẳn là vấn đề đối với những ai được đào luyện từ buổi đầu; nhưng lại gây khó chịu khi các tân tòng, thiếu huấn luyện, kỷ luật và trưởng thành, bị nhìn như lang thang vô định hoặc tệ hơn.
Vì thế diễn ra cuộc đối đầu với vị sáng lập tại triều đình ở Viterbo: có lẽ không báo trước, ngài được trao bức sắc chỉ Cum secundum consilium (22/9/1220). Thư này buộc huynh đoàn thiết lập một thời gian thử luyện (một “tập viện” theo kiểu hiện đại), trong đó các tân tòng phải dành một năm để được thông tin thích đáng về đoàn sủng của cộng đoàn, nhưng cũng—và nhất là, trong con mắt Giáo triều—về cách vận hành bình thường của đời tu và cung cách ứng xử. Nếu họ muốn tiếp tục lữ hành và rao giảng khắp các giáo phận ở châu Âu và xa hơn, từ nay bắt buộc chỉ làm thế khi có giấy vâng phục (cho phép) đi lại do bề trên hợp pháp (các minister) ban. Vậy, Phanxicô bị truyền phải bớt “tự do phóng khoáng” trong quản lý kỷ luật anh em và gắn chặt hơn với các mối tương quan vâng phục theo khuôn mẫu đời tu được phê chuẩn.
Cũng có thể nói: “lò luyện” đích thực (vì nền tảng nhất) của việc đào tạo đời tu theo forma vitae fratrum minorum thực ra là chia sẻ kinh nghiệm sống giữa người phong của thời đại. Dẫu kinh nghiệm khai tâm độc đáo này sẽ dần mai một trong thập kỷ sau (như ta sẽ thấy), vào lúc này dường như nó vẫn là phần quan trọng trong hành trình nhập vào đoàn sủng sống động dành cho tân tòng: nhìn thấy và chạm vào khuôn mặt của những người nghèo bất đắc dĩ trên thế gian phải là yếu tố cốt lõi của căn tính Anh Em Hèn Mọn.
Tổng tu nghị khẩn cấp cuối tháng 9 năm 1220
Sau khi trở về từ Cận Đông về đất Ý đầu mùa thu 1220, nếu chưa trước đó, Phanxicô hẳn quyết định triệu tập anh em về Portiuncula để họp “khẩn cấp” nhằm giải quyết những vấn đề cấp bách. Bị ngắt quãng một lúc để đến Viterbo xử lý mối bận tâm của Giáo triều về sự đi lại “vô kỷ luật” và nhu cầu đặt nền vững chắc hơn theo chuẩn mực đời tu mà vẫn trung thành với đoàn sủng, Phanxicô quyết dùng cơ chế đã có trong Luật Sơ khởi dành cho các tổng tu nghị cấp tỉnh (dịp lễ Tổng lãnh thiên thần Micae) và mời tất cả anh em có thể đến tham dự cuộc họp khẩn, nơi ngài định trực diện các vấn đề hệ trọng về định hướng tương lai. Đây hẳn là một tổng tu nghị bản lề trong đời huynh đoàn.
Vẫn còn tranh luận về thời điểm và nội dung của vài kỳ họp kế tiếp. Ta biết có một cuộc tụ họp cuối tháng 9/1220; một tổng tu nghị chung dịp Lễ Hiện Xuống tháng 5/1221; và thêm một kỳ nữa năm 1222. Ở đây, tôi nhấn mạnh cuộc họp đầu tiên vào lễ Thánh Micae cuối thu 1220, gọi là “Tổng tu nghị khẩn cấp”. Tôi cũng mạnh dạn suy đoán đây rất có thể là “Tổng tu nghị Lều chiếu” (hoặc một trong số đó): khi các anh em đổ về Assisi theo lời gọi của vị sáng lập, bất kể chức vụ, để xử lý việc khẩn.
Phanxicô đến với tâm trạng bực bội và thậm chí giận dữ: ngài cảm thấy huynh đoàn mình sáng lập đang trượt khỏi tầm tay, và nguy hơn, đang xa rời các lý tưởng quý nhất thuở đầu. Jordan ở Giano—dẫu có thể lẫn lộn vài sự kiện cuối 1220 với những gì xảy ra Lễ Hiện Xuống 1221—kể lại cuộc họp trọng đại này như sau: “Chân phúc Phanxicô tổ chức một… tổng tu nghị tại Đức Mẹ Portiuncula, và như phong tục khi ấy, cả anh em khấn trọn lẫn tập sinh đều dự. Ước chừng có ba nghìn anh em… Đức Hồng y phó tế Rainerius hiện diện, cùng nhiều giám mục và tu sĩ khác. Theo lệnh ngài, một giám mục cử hành Thánh lễ, và người ta tin chân phúc Phanxicô đọc Tin Mừng, còn một anh em đọc Thư. Vì không có nơi cư trú cho quá đông người, anh em sống, ăn và ngủ trong những lều kết cành trên một cánh đồng rộng có rào: có hai mươi ba bàn ăn sắp xếp ngăn nắp… Dân chung quanh hăng hái phục vụ, phân phát bánh rượu dồi dào và vui mừng thấy nhiều anh em tụ họp cũng như sự trở về của chân phúc Phanxicô.”
Ông có lẽ đang mô tả điều về sau được gọi là “Tổng tu nghị Lều chiếu”. Ông tiếp: Phanxicô, bồn chồn về tình trạng của dòng, đã giảng bài khai mạc, đặt một giọng điệu nghiêm khắc: “Trong kỳ họp này, Chân phúc Phanxicô giảng cho anh em theo chủ đề: ‘Chúc tụng Chúa là Đấng luyện tay tôi để chiến đấu, luyện ngón tay tôi để giao tranh!’…” Ngài cũng giảng cho dân, và mọi người được xây dựng.
Bản văn trích từ Tv 143:1. Nhìn thoáng xuống các câu khác thì đáng suy ngẫm: “Người là nơi nương náu, thành lũy, đồn lũy, Đấng giải thoát, khiên che chở… Đấng khuất phục chư dân dưới chân tôi.” Với tư cách bề trên tổng quyền, Phanxicô khẩn cầu Thiên Chúa “kéo về quy phục” những người, nhờ lời khấn vâng phục, lẽ ra phải tuân phục ý muốn và mệnh lệnh của bề trên theo Luật Sống cả hai bên đã tuyên. Xa hơn trong Thánh vịnh là lời khẩn thiết có thể phản chiếu tâm trạng của “bề trên và đầy tớ của mọi anh em”: “Từ chốn cao xanh, xin đưa tay ra—giải thoát con, cứu con khỏi nước lớn, khỏi tay con cái ngoại bang: miệng chúng thề gian dối, tay mặt chúng giơ lên thề thốt phản trắc.” Gần như y hệt lời ấy lặp lại ở câu 11. Cuối cùng, câu 13 là lời nguyện: “Ước chi con trai chúng ta như cây non lớn lên vững mạnh; con gái chúng ta như những cột đá chạm trổ, trang hoàng góc đền thờ.”
Nói cách khác, Phanxicô không chỉ đến đây trong bực bội với vài anh em; ngài thực sự chỉ ra ngay trong lời mở đầu điều ngài muốn đối đầu: những anh em mà thái độ và hành động cho thấy họ đã trở thành “người xa lạ” với forma vitae họ đã tuyên khi gia nhập cộng đoàn—“con cái ngoại bang” đối với đoàn sủng, những kẻ đã từng giơ tay thề ước mà nay “thề gian” khi đi theo những nẻo không phù hợp đoàn sủng Phan sinh. Giọng tối của lời mở đầu phản chiếu trong một tường thuật nổi tiếng về cuộc “đụng độ” mà vị sáng lập định có—và đã có—với các môn sinh, được truyền bởi “các bạn hữu của Phanxicô”, chép trong Assisi Compilation (ký ức có lẽ gom lại giữa thập niên 1240). Văn bản then chốt nên trích trọn:
“Khi chân phúc Phanxicô ở tổng tu nghị gọi là ‘Tổng tu nghị Lều chiếu’ tại Đức Mẹ Portiuncula, có khoảng năm nghìn anh em hiện diện. Nhiều anh em ‘khôn ngoan và học rộng’ nói với Đức Hồng y—vị sau này làm Giáo hoàng Grêgôriô (có mặt tại cuộc họp)—rằng ngài nên khuyên chân phúc Phanxicô nghe theo lời khuyên của chính những anh em khôn ngoan ấy và để họ hướng dẫn một thời gian. Họ trích quy tắc của thánh Biển Đức, thánh Âu Tinh, thánh Bênađô, dạy phải sống có trật tự như thế nào. Nghe lời khuyên của Hồng y, chân phúc Phanxicô nắm tay ngài dẫn đến trước anh em đang nhóm họp và nói: ‘Anh em! Anh em! Thiên Chúa đã gọi tôi theo con đường khiêm nhường và chỉ cho tôi đường đơn sơ. Đừng nói với tôi về bất cứ luật nào—dù của thánh Âu Tinh, thánh Bênađô hay thánh Biển Đức. Chúa đã dạy tôi điều Người muốn: Người muốn tôi làm một “kẻ điên mới” (novellus pazzus) giữa thế gian. Thiên Chúa không muốn dẫn chúng ta theo con đường nào khác ngoài điều hiểu biết này; nhưng chính bằng sự hiểu biết và khôn ngoan của anh em, Thiên Chúa sẽ làm anh em bối rối…’ Hồng y sững sờ và im lặng, còn mọi anh em thì sợ hãi.”
Đoạn này là ngã rẽ trong lịch sử huynh đoàn sơ khai, vọng lại giọng điệu và nội dung bài mở đầu của Phanxicô. Một số tân tòng tìm cách gây áp lực qua Hồng y Hugolino để buộc Phanxicô nhường tay lái hoặc ít nhất để các “bậc thầy” đời tu cổ điển dẫn dắt. Cụm “khôn ngoan và học rộng” ở đây không nhằm khen, mà là mỉa mai—ám chỉ kiểu “biệt phái”, “miệng thề gian, tay thề phản”.
Tại sao căng thẳng? Cuối 1220, huynh đoàn—được chuẩn nhận bên ngoài các phiên họp của Latêranô IV và thu hút ơn gọi khắp nơi nhờ sứ điệp thiêng liêng mạnh mẽ—đã đến một bước ngoặt. Hai cách hiểu về ý nghĩa và mục đích nảy sinh: một bên là tân tòng (phần nhiều giáo sĩ), được đào luyện ngoài thung lũng Umbria–Spoleto, hiểu biết cấu trúc và tập tục đời tu, nghĩ mình có thể hướng năng lượng của cộng đoàn mới mẻ này tới việc canh tân Giáo hội hữu hiệu hơn; họ muốn Hồng y Hugolino, đặc sứ cải tổ đời tu ở Ý, gây áp lực để Phanxicô nhường quyền hoặc ít ra để cho các vị thầy cổ điển (Biển Đức, Âu Tinh, Bênađô) “định hình” nếp sống Phan sinh. Họ xem Phanxicô hơi ngây thơ, hoặc thiếu kinh nghiệm trong cơ chế đời tu.
Nhưng Phanxicô không chấp nhận. Ngài dẫn Hugolino vào giữa anh em và nhắc—thực ra là dạy và trách—rằng Thiên Chúa đã mặc khải cho ngài và các anh em buổi đầu cách họ phải là và làm giữa đời: humilitas và simplicitas (vang âm “sự khiêm nhường và nghèo khó của Chúa chúng ta” trong Luật Sơ khởi 9,1–2). Ngài tuyên bố: Thiên Chúa muốn ngài là “một kẻ điên mới” giữa đời. Thường người ta hiểu câu này như tinh thần tự do hồn nhiên của Phanxicô, chơi “đàn vĩ cầm tưởng tượng”, giảng cho chim muông—một cách đọc hiện đại về Poverello. Nhưng ý nghĩa sâu xa hơn, mang đậm Kinh Thánh, nhất là nơi hai đoạn Phaolô. Trước hết 1 Cr 4: “Chúng tôi đã nên trò cười cho thế gian… vì Đức Kitô, chúng tôi là những kẻ điên… chúng tôi yếu… bị khinh chê… đói khát… lang thang không nhà… chịu nhục thì chúc lành… bị bách hại thì nhẫn nhịn… chúng tôi như rác rưởi của trần gian.” Rồi Pl 3: “Những gì xưa tôi kể là lợi, nay vì Đức Kitô, tôi kể là thiệt… mọi sự tôi coi như rác rưởi (stercor) để được Đức Kitô.”
Hai bản văn giúp hiểu sự đối nghịch mà Phanxicô nhấn mạnh nằm ở nền tảng forma vitae đã được mặc khải. Ơn gọi là đặt một đối nghịch rõ ràng với các chuẩn định giá của thế gian. Nhưng nay có anh em muốn rời bỏ lập trường sơ khởi ấy. Đây là một trong những dấu hiệu đầu tiên của cái về sau gọi là “giáo sĩ hóa” Dòng Anh Em Hèn Mọn. Không chỉ là tăng số giáo sĩ, mà sâu xa là việc tân tòng ngày càng đến từ ngoài Umbria–Spoleto, được đào luyện trong các trường học Bắc Ý (và xa hơn), mang một định nghĩa truyền thống hơn về “đời tu thực thụ” và cung cách tu sĩ. Khi nhìn anh em, họ bối rối—thậm chí thất vọng—trước một “tập hợp lỏng” của các tu sĩ thích ẩn thất, xa các thành thị đang phình lớn—trong khi họ cho rằng Tin Mừng phải được gieo ở đó, chứ không phải ở miền quê giữa người bệnh, nghèo, phong. Trái lại, mặc khải ban đầu cho Phanxicô là dấn thân ở lại giữa minores của xã hội, đôi khi mới vào thành thị, mang tầm nhìn Tin Mừng về thái độ đổi mới đối với người nghèo và bị loại trừ. Điều này bùng lên ở Bologna tháng trước khi Phanxicô đau xót thấy anh em của Phêrô Stacia rời minores để vào thành, gần khu đại học và đám đông Kitô hữu.
Cuộc đối đầu tại Tổng tu nghị khẩn cấp vì thế là một khủng hoảng sớm của huynh đoàn: hai tầm nhìn đối nghịch lộ diện—một bên ngày càng “tông đồ” giữa đô thị, như cánh tay phục vụ sứ mạng giáo hoàng; bên kia mang tính ẩn tu tại chỗ, rao giảng thống hối và chăm nom nhu cầu của villani ở nông thôn. Ở đây là những hạt mầm cho đối nghịch lớn về sau giữa thế đứng xã hội–hiện diện nguyên thủy và các hoạt động mang tính giáo sĩ trong thị thành châu Âu.
Việc từ chức của Phanxicô và chỉ định người kế nhiệm
Phanxicô hẳn đã nói hết điều cần nói. Ta không biết cuộc đối đầu với tân tòng và Hồng y Hugolino có đổi được lòng ai không. Có lẽ dòng nước đã xoay về thế đứng đô thị, hợp ý Tòa Thánh. Nhưng Phanxicô trở về Ý không chỉ trong cảnh chán nản về điều đang diễn ra, mà còn rất bệnh. Sức khỏe suy sụp: bệnh dạ dày nặng, mắt cũng tệ. Tại đây, ngài nhận ra việc trước mắt sẽ gian nan—nếu không muốn nói quá sức. Tân tòng, vốn hướng về thành thị, xa đời sống nơi nông thôn, sẽ là bài toán khó. Phanxicô biết mình phải làm gì; nhưng liệu có muốn—và có đủ sức—“nhét lại thần đèn vào bình”? Có lẽ không. Thế nên, tại Tổng tu nghị khẩn cấp này, sau khi đã nói, Phanxicô từ chức “bề trên và đầy tớ của mọi anh em”.
Đọc kỹ các văn liệu hagiô cho thấy mọi yếu tố—thất vọng, bực bội, hờn tủi, bệnh tật, và nỗi sợ chính mình sẽ áp đặt ý muốn một cách cứng rắn để kéo anh em về thế đứng ban đầu—đều góp phần vào quyết định trao dây cương cho người khác. Nhưng ngài chỉ định một người mà ngài tin có thể, ít là phần nào, tiếp nối thị kiến sơ khai: Phêrô Catanii làm bề trên tổng quyền. Vài chỉ dấu cho thấy Phêrô có huấn luyện luật học, có thể đối thoại khéo với các nhà hữu trách Giáo hội đang thúc cộng đoàn hội nhập hơn vào cơ cấu và phong hóa Giáo hội; và có thể giao tiếp tốt với Hồng y Hugolino—người, như ta đã thấy với các Chị Clara, rất quan tâm đến việc tổ chức phong trào Phan sinh. Có lẽ chính lúc này, sau Tổng tu nghị, Phanxicô đã xin Giáo triều và Honorius III chỉ định Hồng y Hugolino làm “Hồng y bảo trợ” của Dòng Anh Em Hèn Mọn. Vị này không chỉ tỏ ra ưu ái với anh em và các chị, mà, theo Phanxicô (bất chấp nhận định của Paul Sabatier), có lẽ là người ngài tin là thiện chí. Điều này có đúng không là một khía cạnh thú vị của lịch sử dòng sau khi đấng sáng lập qua đời.
Tuy nhiên, Phêrô qua đời chỉ vài tháng sau khi bắt đầu nhiệm vụ; các nguồn gọi ông khéo léo và kính trọng là “đại diện” (vicar) của Phanxicô. Vậy tại Tổng tu nghị Lễ Hiện Xuống tháng 5/1221, cần một người khác làm “bề trên và đầy tớ của mọi anh em”. Lần nữa, hội nghị dường như đồng thuận với người kế vị do Phanxicô—đang bệnh nặng—chỉ định: Ê-li-a Cortona, một nhân vật về sau gây tranh luận, nhưng lúc ấy tài năng tổ chức–quản trị không thể chối cãi (ngay sau khi Phanxicô qua đời, Ê-li-a sẽ được giao điều phối công trình vĩ đại: đại vương cung thánh đường San Francesco ở ngoại ô Assisi, và là người đối thoại nổi bật với Đức Grêgôriô IX—tức Hồng y Hugolino trước đây—và Hoàng đế Frêđêricô II). Ngoài tài quản trị, Ê-li-a và cả Phêrô Catanii còn có một nét thường bị quên: Phêrô là bạn đường “đệ nhất” của Phanxicô trong sứ vụ Levant năm 1219; Ê-li-a từng được chỉ định năm 1217 là tỉnh dòng trưởng đầu tiên của “Syria” mới, tâm ở Acre. Nghĩa là cả hai người kế vị đều chia sẻ với Phanxicô một cách tiếp cận tương tự đối với sứ vụ quan trọng giữa người Hồi giáo—do chính vị sáng lập khởi xướng. Vì lý do sống còn này, cả Phêrô lẫn Ê-li-a được Phanxicô chọn để tiếp tục công trình của ngài.
Từ chức… nhưng không “về hưu”
Khó nói Phanxicô triệu tập Tổng tu nghị khẩn cấp để từ chức, hay diễn biến trong kỳ họp khiến ngài quyết định. Dầu sao, ngài đã từ chức. Song không có bằng chứng nào cho thấy ngài “hờn dỗi bỏ đi” vào ẩn thất. Trái lại, ngài bảo đảm dòng được đặt vào tay hai anh em mà ngài tin chia sẻ phần lớn lý tưởng và cái nhìn của mình. Và ngài còn làm hơn thế cho dự án Tin Mừng, bất chấp tình trạng sức khỏe mong manh.
Một hình thức “chia sẻ lãnh đạo”
Chính thức, Tổng tu nghị chuẩn thuận lãnh đạo của Phêrô Catanii như “đầu” của dòng. Vì kính vị sáng lập, các nguồn đều gọi ông—và người kế tiếp Ê-li-a—là “đại diện” của Phanxicô. Họ là “bộ mặt chức năng” (titular) của dòng trước mắt anh em. Tương tự mô hình thẩm quyền đầu tiên khi cùng đi Rôma xin phê chuẩn forma vitae (quyền được chia sẻ: Bernard Quintavalle làm trưởng đoàn chức năng, còn Phanxicô vẫn là cha tinh thần), bây giờ sau kỳ họp cuối 1220, Phêrô rồi Ê-li-a làm lãnh đạo chức năng, còn phong trào vẫn biết đến như Dòng Anh Em Hèn Mọn.
Một sắp đặt tương tự đã được Phanxicô thực hiện khi ngài rời Ý sang Levant, đặt Grêgôriô Napoli và Matthêu Narni làm lãnh đạo chức năng và tinh thần khi ngài vắng mặt: Grêgôriô lo mặt thiêng liêng qua việc thăm viếng anh em; Matthêu lo mặt chức năng: đón tiếp, khảo hạch, mặc áo (hoặc từ chối) ứng sinh. Còn bây giờ, sau khi nhường vai trò lãnh đạo chức năng, Phanxicô tiếp tục phục vụ như lãnh đạo thiêng liêng/đặc sủng trên nhiều phương diện. Vài giai thoại từ chứng từ của các bạn hữu kể rằng sau khi từ chức, ngài vẫn muốn làm mẫu gương của một Anh Em Hèn Mọn đích thực. Assisi Compilation thuật cuộc đối thoại: ngài nói mình từng đủ làm gương bằng lời và việc cho anh em, nhưng khi thấy số đông tăng lên mà “ấm lạnh nửa vời”, bắt đầu “lạc đường”, không còn để ý lời khấn và gương lành, thì ngài “giao phó dòng cho Chúa và các bề trên”. Dù khi thoái chức, trước mặt anh em, ngài viện cớ sức khỏe yếu không thể chăm lo chu đáo nữa, nhưng ngài nói: “Ngay cả bây giờ, nếu anh em đã và còn đi theo ý tôi… tôi chẳng muốn họ có bề trên nào khác ngoài tôi cho đến ngày tôi chết…” Và ngài tiếp: “Chức vụ của tôi—tức quyền bính của tôi trên anh em—là chức vụ thiêng liêng, vì tôi phải thắng và sửa các nết xấu… Dù sao, cho đến ngày tôi chết, tôi không ngừng dạy anh em bằng gương và việc làm con đường mà Chúa đã chỉ cho tôi, và tôi đã chỉ và dạy họ, để họ không còn cớ trước mặt Chúa và tôi không bị buộc phải trả lẽ về họ trong Ngày Sau Hết.”
Một tường thuật khác ghi cùng thái độ: “Một lần, sau giờ cầu nguyện, ngài nói với bạn đồng hành, hân hoan: ‘Tôi phải là khuôn mẫu và gương (formam et exemplum) cho mọi anh em…’ Chúng tôi không thể kể hết bao nhiêu và lớn lao thế nào những thiếu thốn mà ngài tự chối từ trong ăn mặc để nêu gương cho anh em, để họ chịu đựng thiếu thốn với kiên nhẫn hơn. Mọi lúc, nhất là sau khi số anh em tăng mạnh và ngài từ chức, chân phúc Phanxicô đặt mục tiêu cao nhất là dạy anh em—bằng việc làm hơn là lời—điều nên làm và điều nên tránh.” Nói cách khác, dù chính thức rời chức bề trên tổng quyền, ngài vẫn cố gây ảnh hưởng bằng cách trở nên hiện thân của intentio regulae.
Viết thư: Cách thứ hai mà vị sáng lập cố duy trì ảnh hưởng: bắt đầu viết thư cho họ. Ta đã thấy, khi trở về từ Trung Đông, Phanxicô viết “Thư gởi mọi tín hữu”—bản “dài”, có sự hỗ trợ của Xêda Speyer. Nhưng ngài cũng viết cho chính anh em mình: một cách thi hành lãnh đạo thiêng liêng. Thẩm định kỹ vượt xa phạm vi ở đây; chỉ tóm lược đôi điều: Phanxicô (và các thư ký) để lại một kho văn bản phong phú, nhiều thể loại.
Luật năm 1221. Luật Sơ khởi, như ta đã thấy, khởi đầu với các chương nền (1, 7, 14), rồi nới sang 8 và 9. Nòng cốt này lại mở rộng giai đoạn 1217–1219 để thêm các mục về quản trị–thẩm quyền (ch. 4, 5, 6), trong khi ch. 18 và 19, lần lượt, về các cấp tổng tu nghị (toàn dòng, tỉnh, nước Ý) và việc cần thiết nêu rõ căn tính Công giáo khi đi sứ vụ. Những bổ sung này phản ánh các khoản mới của Latêranô IV và kinh nghiệm khó khăn “vượt núi” trước khi đoàn Levant khởi hành. Nhưng ngay khi Phanxicô trở về khoảng mùa thu 1220, một số chương khác liên quan đời sống anh em được thêm ngay: ch. 2 (tiếp nhận và mặc áo cho anh em—vang mối bận tâm Giáo triều ở Viterbo); ch. 16 (sứ vụ giữa người Hồi giáo và những ai không chia sẻ đức tin Kitô). Sau cuộc đối đầu với một số giáo sĩ tại Tổng tu nghị khẩn cấp và sau khi từ chức, Phanxicô cộng tác với Xêda Speyer trong một cuộc “cập nhật” rộng: thêm ch. 20 (rước Thánh Thể và xưng tội với linh mục hợp lệ, hoặc nếu không có, thì với nhau cho tới khi tìm được linh mục), ch. 21 (lời kêu gọi sinh hoa trái xứng với việc “làm việc đền tội”, như một fervorino cho bài giảng). Nhiều chủ đề này đã dệt trong “Bản dài của Thư gởi các tín hữu” và “Lời khuyên 1” (có lẽ Xêda hỗ trợ soạn). Nay chúng được nhập vào chính văn Luật Sơ khởi.
Tiếp theo là hai chương dài thêm về cuối. Chương 22 gồm nhiều phần, như một “mảnh ghép” các bản văn: bốn câu đầu (1–4) có lẽ là tái soạn “lời từ biệt” đọc ở tổng tu nghị năm 1219 trước khi đi Thánh địa; phần còn lại gồm: nhắc anh em về sự mong manh thân phận và nguy cơ chọn sai (5–8; dựa Mc 7, thoáng Mt 15); tái trình bày “Dụ ngôn người gieo giống” (9–17; Lc 8, với cụm từ Mt 13, Mc 4); suy niệm ngắn về trung tín ơn gọi (18–24); một đoạn dài về phát triển và duy trì tương quan cá vị với Thiên Chúa trong cầu nguyện (25–40); và chuỗi trích dẫn phần lớn từ Ga 17 (41–55)—có lẽ là “lời từ biệt” thứ hai và dứt khoát tại Tổng tu nghị khẩn cấp 9/1220 khi ngài công bố từ chức. Chương 23 là một lời nguyện bay bổng (1–9), lời nài xin sự chuyển cầu của Ba Ngôi và các thánh (10–15), lời kêu gọi các tầng lớp–nghề nghiệp trong xã hội “làm việc đền tội” (16–22), và kết (23–34) là tiếng gọi nhiệt thành hãy sống trọn tình yêu Thiên Chúa. Cũng cùng thể loại có “Luật cho các ẩn thất” (có thể 1217–1221) và “Luật Sau” (1223).
Các thư. Ngoài “Thư gởi mọi tín hữu” (bản dài và bản ngắn), “Thư gởi các thủ lãnh muôn dân” (liên quan kinh nghiệm Damietta), còn có nhiều thư nội bộ, tạm phân nhóm: Vài Lời khuyến dụ về lòng sùng kính và chăm lo Thánh Thể: “Thư gởi các giáo sĩ” (Bản sớm trước 1219; Bản muộn 1220); “Thư thứ nhất và thứ hai gởi các custodes” (1220); “Thư gởi toàn Dòng” (khoảng 1225–1226)—về Thánh Thể và nhiều điều khác. Ba thư cá nhân: “Thư gởi một minister” (khoảng 1223—có thể gởi Xêda Speyer, minister ở Đức); “Thư gởi Antôn Padova” (khoảng 1224); “Thư gởi anh Leo” (khoảng 1224–1226). Nên nhớ các thư này phần nhiều “phụ lưu” từ các bản văn lớn (nhất là Luật Sơ khởi và “Bản dài Thư gởi các tín hữu”) về mặt nội dung và giá trị.
Kinh nguyện và Lời khuyên (Admonitions). Nhóm này khó bối cảnh hóa và phân loại vì xuất hiện trong nhiều hoàn cảnh, bao chủ đề đa dạng. Kể tên: “Lời ngợi khen Thiên Chúa”; “Khuyến dụ ngợi khen Thiên Chúa”; “Những lời ngợi khen đọc ở mọi giờ kinh”; “Kinh Phụng vụ Cuộc Thương Khó”; “Lời nguyện cảm hứng từ ‘Kinh Lạy Cha’”; “Các Lời khuyên”; “Kính chào Đức Trinh Nữ Maria”; “Kính chào các Nhân đức”; “Phép lành cho anh Leo” (khoảng 1224)’ “Câu chuyện niềm vui chân thật và trọn hảo” (khoảng 1225); “Bài ca khuyến dụ cho Quý Bà Nghèo ở San Damiano” (khoảng 1225); “Bài ca Vạn vật” (khoảng 1225). Những bản tuyệt đẹp này khó gắn niên định chặt chẽ. Chúng vang vọng các bản khác trong opuscula của Phanxicô và lấp lánh những khía cạnh linh đạo của Poverello vốn về sau đạt độ chín. Một di sản lớn lao trao lại cho anh em, chị em và bằng hữu trên hành trình thiêng liêng “khiêm nhường và nghèo khó của Chúa chúng ta”.
Chưa có Đánh giá/Bình luận nào được đăng.
Hãy trở thành người đầu tiên đóng góp nội dung cho Bài viết này.